vanban.org

Bản án 31/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Xuân Ng.

Về con chung: giao cháu Đinh Ng Bảo Anh, sinh ngày 27/3/2017 cho chị Ng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời anh B không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh B được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được ngăn cản. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Bích ngọc, Nguyễn Phương Bình"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Xuân Ng.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LK
TỈNH ĐỒNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2023/HNGĐ-ST
Ngày 16/6/2023
“V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LK TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hùng

Các Hội thẩm nhân dân: 1/Bà Lê Thị Hồng Thanh.

2/Bà Nguyễn Thị Mỹ Hương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Nam, cán bộ TAND thành phố LK, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố LK tham gia phiên tòa: Bà Trần Huỳnh Như Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố LK, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 707/2022/TLST- HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số: 19/2023/QĐST-HN ngày 22 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Xuân Ng, năm sinh: 1997.

- Bị đơn; Anh Đinh Thái B, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Khu phố Bảo Vinh B, phường Bảo Vinh, TP. LK, tỉnh Đồng Nai.

(các đương sự vắng tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 08 tháng 12 năm 2022 và bản tự khai nguyên đơn chị Nguyễn Thị Xuân Ng trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2017 chị và anh B tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn với nhau tại UBND xã Bảo Vinh, TP LK. Quá trình chung sống vợ chồng không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhận mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã xúc phạm lẫn nhau, anh không quan tâm lo lắng cho vợ con, vợ chồng sống ly thân từ đầu năm 2022 đến nay, không ai quan tâm chăm sóc lẫn nhau nên cuộc sống hôn nhân ngày càng trầm trọng, chị đã cố gắng hàn gắn nhưng không có kết quả. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh B.

- Về con chung: có 01 người con tên Đinh Ng Bảo Anh, sinh ngày 27/3/2017 hiện nay chị đang nuôi dưỡng, sau khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: không có tài sản chung.

- Về nợ chung: chị khẳng định không nợ ai và không ai nợ vợ chồng.

- Về án phí: chị đồng ý nộp toàn bộ án phí hôn nhân sơ thẩm.

* Tại biên bản lấy lời khai ngày 21/02/2023 của bà Trần Thị Xuân trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2016 chị Ng và anh B chung sống với nhau và đến năm 2017 thì mới đăng ký kết hôn, gia đình chúng tôi cũng tổ chức đám cưới đàng hoàng. Sau khi cưới nhau hai cháu về ở LK cùng gia đình bên chồng, được một thời gian thì cả hai về B Dương chung sống cùng bên gia đình chúng tôi, trong cuộc sống giữa hai người có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh B cờ bạc, đề đóm nên mới xảy ra sự việc như bây giờ, gia đình đã khuyên ngăn cho anh B nhiều cơ hội nhưng cũng không có kết quả nên chị Ng đã về nhà bà sinh sống từ đầu năm 2022 đến nay, nay vợ chồng các con ly hôn thì quyền các cháu quyết định.

- Về con chung: có 01 người con tên Đinh Ng Bảo Anh, sinh ngày 27/3/2017 hiện nay chị đang nuôi dưỡng.

- Về tài sản chung: tôi biết các cháu không có tài sản chung.

* Tại biên bản xác minh nơi cư trú của anh Đinh Thái B tại phường Bảo Vinh ngày 24/02/2023 cho biết.

Anh Đinh Thái B có hộ khẩu tại phường Bảo vinh, TP LK, hiện nay anh B đi làm ở Tp Hồ Chí Minh, thỉnh thoảng anh có về nhà ở Bảo Vinh, Tp LK. Vờ chồng có nhiều mâu thuẫn nên không còn chung sống với nhau, vợ chồng có 01 người con Đinh Ng Bảo Anh, sinh ngày 27/3/2017 hiện nay đang ở với chị Ng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố LK, tỉnh Đồng Nai phát biểu quan điểm:

- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến phiên tòa xét xử sơ thẩm được thực hiện đúng; bị đơn không thực hiện đúng quy định với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn đã có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn văng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tiếp tục xét xử.

- Về nội dung vụ án:

+ Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn - chị Nguyễn Thị Xuân Ng.

+ Về con chung: có 01 người con tên Đinh Ng Bảo Anh, sinh ngày 27/3/2017 hiện nay chị Ng đang nuôi dưỡng, sau khi ly hôn chị Ng yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng. Xét yêu cầu về nuôi con, thì từ khi sinh cháu Anh đến nay cháu được mẹ là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, anh B không có ý kiến gì về việc nuôi con nên cần giao con chị Ng nuôi dưỡng là phù hợp.

+ Về tài sản chung: không có nên không đặt ra xem xét.

+ Nợ chung: không có nên không đặt ra xem xét

+ Về án phí: Chị Ng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Kiểm sát viên không kiến nghị khắc phục hay bổ sung gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn - chị Nguyễn Thị Xuân Ng có yêu cầu ly hôn với bị đơn - anh Đinh Thái B do đó quan hệ pháp luật trong vụ án này là “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án xác định anh B có hộ khẩu thường trú tại phường Bảo Vinh, thành phố LK, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố LK, tỉnh Đồng Nai theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn đã có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thú hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ khoản 1, 2 Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Xuân Ng và anh Đinh Thái B kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường Bảo Vinh, TP. LK, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn vào năm 2017. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Ng nhận thấy: Theo lời khai của chị Ng thì vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xúc phạm lẫn nhau, anh B không quan tâm lo lắng cho vợ con nên vợ chồng sống ly thân từ đầu năm 2022 đến nay, không ai quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Nay cuộc sống hôn nhân ngày càng trầm trọng chị yêu cầu được ly hôn với anh B, lời khai của chị Ng phù hợp với lời khai của bà Trần Thị Xuân, phù hợp với biên bản xác minh tại phường Bảo Vinh về mâu thuẫn gia đình. Do đó, có đủ cơ sở xác định trong quá trình sống chung, anh chị đã không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xét yêu cầu ly hôn của chị Ng đối với anh B là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Anh chị có có 01 người con tên Đinh Ng Bảo Anh, sinh ngày 27/3/2017 hiện nay chị Ng đang nuôi dưỡng, sau khi ly hôn chị Ng yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh B cấp dưỡng. Xét yêu cầu về nuôi của chị Ng thấy rằng: từ khi cháu sinh ra cho đến nay chị Ng là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục, trong thời gian sống ly thân, chị Ng là người trực tiếp nuôi dưỡng, chị Ng có công ăn việc làm ổn định, có đủ điều kiện để chăm sóc giáo, dục cháu phát triển B thường nên giao con cho chị Ng trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp nên yêu cầu được nuôi con của chị Ng là có căn cứ chấp nhận.

Về tài sản chung: Chị Ng khai không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

. Về nợ chung: chị Ng khai không có nợ chung nên không xem xét.

Về án phí: Chị Ng tự nguyện nộp án phí dân sự sơ thẩm ly hôn .

Về quan điểm của đại diện Viện kiểm sát: Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố LK về đường lối giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Các bên đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản khoản 2 Điều 227, khoảng 1, 2 Điều 228, Điều 271, 273, Điều 278 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 và 84 - Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Căn cứ điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Xuân Ng. Cho chị Ng được ly hôn với anh Đinh Thái B.

2. Về con chung: giao cháu Đinh Ng Bảo Anh, sinh ngày 27/3/2017 cho chị Ng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời anh B không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh B được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được ngăn cản. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

4. Về nợ chung: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

5. Về án phí: Chị Ng phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm ly hôn. Chuyển tiền tạm ứng án phí chị Ng đã nộp sang án phí theo biên lai thu tiền số 0006287 ngày 06/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố LK, tỉnh Đồng Nai. Chị Ng đã nộp xong án phí.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

6. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc Tòa án niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ