vanban.org

Bản án 31/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Kiện xin ly hôn và tranh chấp nuôi con"
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!
THÀNH!PHỐ!PHỦ!LÝ!!
!!!!!TỈNH!HÀ!NAM!

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2023/HNGĐ-ST
Ngày 31-7-2023.
V/v: “Kiện"xin"ly"hôn,"nuôi""
"con"chung”."

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

!

TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!PHỦ!LÝ!-!TỈNH!HÀ!NAM!

! !!!!!!!!!!!- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:!

Thẩm"phán"-"Chủ"toạ"phiên"toà:"Ông Lê Thanh Sơn.

Hội"thẩm"nhân"dân:"Ông Lê Chí Trung và bà Nguyễn Thị Chương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Ngân - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 15/2023/TLST-HNGĐ ngày 06/03/2023 về tranh chấp: “Kiện xin ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/6/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số: 13/2023/QĐ-TA ngày 13/7/2023 giữa các đương sự:

*"Nguyên"đơn: Chị Bùi Thị T, sinh năm 1996.

Địa chỉ: Thôn M, xã T, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.

*"Bị"đơn: Anh Đinh Trọng Nguyên M, sinh năm 1996.

Địa chỉ: Tổ N, phường L, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.

Chị Bùi Thị T vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh Đinh Trọng Nguyên M vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

!

* Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và quá trình giải quyết vụ án, chị Bùi Thị T đều khai, trình bày: Chị và anh Đinh Trọng Nguyên M lấy nhau có đăng ký kết hôn ngày 11/02/2020 tại UBND phường Lê Hồng Phong, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam. Chị và anh M kết hôn với nhau là tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm về vấn đề sinh hoạt, lối sống và kinh tế, anh M lại không chịu tu chí làm ăn và quan tâm đến vợ con nên dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã, nặng lời với nhau. Mặc dù anh chị đã được gia đình hai bên khuyên bảo, hòa giải nhưng vợ chồng vẫn không tìm được tiếng nói chung. Do mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trở nên trầm trọng và kéo dài, không có cách giải quyết dẫn đến các bên đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể tiếp tục chung sống nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh M.

Về con chung: Chị T trình bày, xác nhận vợ chồng có một con chung là cháu Đinh Bùi Hà V (con gái), sinh ngày 03/12/2020. Khi xin ly hôn anh M, chị có nguyện vọng xin được nuôi dưỡng cháu Hà V và không yêu cầu anh M phải cấp dưỡng nuôi con cho chị theo quy định pháp luật.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ và các nghĩa vụ chung khác của vợ chồng: Chị T trình bày, xác định vợ chồng không có tài sản chung, tài sản riêng, không có công nợ gì với ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Quá trình giải quyết vụ án, anh Đinh Trọng Nguyên M luôn vắng mặt, không chấp hành yêu cầu triệu tập của Tòa án để giải quyết việc chị T xin ly hôn. Xác minh tại nơi cư trú, bà Đỗ Thị O (mẹ đẻ của anh M) xác nhận anh M có hộ khẩu thường trú tại tổ N, phường L, thành phố Phủ Lý và vẫn chung sống, ăn ở cùng với gia đình bà, thỉnh thoảng anh M có đi làm ăn xa nhưng vẫn thường xuyên đi về nhà, anh M đã biết việc chị T khởi kiện xin ly hôn tại Tòa án và có quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Tòa án đã thực hiện thủ tục cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho anh M thông qua việc giao cho người thân thích của anh M nhận thay và lập biên bản theo quy định.

* Quan điểm của UBND phường L, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xác nhận về điều kiện kết hôn của anh M, chị T và con chung của vợ chồng đúng như chị T đã trình bày tại Tòa án. Địa phương đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh M và giải quyết vấn đề con chung của anh chị theo quy định của pháp luật.

*"Tại"phiên"toà:"""

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự theo quy định của pháp luật. Bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật khi Tòa án nhiều lần triệu tập hợp lệ để trình bày ý kiến, quan điểm về việc bị khởi kiện, tham gia tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng đều vắng mặt không có lý do.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Sau khi phân tích các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xem xét ý kiến, nguyện vọng và đánh giá tình trạng hôn nhân của các bên đương sự, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 28, 35, 39, 68, 144, 147, 227, 228 và 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Luật Phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Bùi Thị T:

- Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Bùi Thị T và anh Đinh Trọng Nguyên M.

- Về con chung: Giao cháu Đinh Bùi Hà V cho chị T được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi trưởng thành. Anh M không phải thực hiện việc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

- Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

!

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, nghe Kiểm sát viên trình bày ý kiến phát biểu, Tòa án nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Bị đơn anh Đinh Trọng Nguyên M có hộ khẩu thường trú tại tổ N, phường L, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án: “Kiện xin ly hôn và nuôi con chung” giữa chị Bùi Thị T và anh Đinh Trọng Nguyên M thuộc thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.

[2] Về xét xử vắng mặt đương sự: Tại phiên tòa mở lần thứ hai, chị Bùi Thị T vắng mặt và đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Anh Đinh Trọng Nguyên M vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, các Điều 228 và 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn xét xử vụ án.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Cuộc hôn nhân giữa chị Bùi Thị T và anh Đinh Trọng Nguyên M được xác lập trên cơ sở các bên tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 11/02/2020 tại UBND phường L, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam do đó hoàn toàn hợp pháp, được pháp luật tôn trọng và bảo vệ.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Bùi Thị T, Hội đồng xét xử thấy rằng: Sau kết hôn, chị T và anh M đã có thời gian chung sống hòa thuận, hạnh phúc và vợ chồng đã có với nhau 01 người con chung, sau đó mới phát sinh mâu thuẫn. Về nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn chị T xác định là do các bên bất đồng quan điểm về cách sống, lối sống, kinh tế, anh M lại là người không chịu tu chí làm ăn và quan tâm đến gia đình dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã, nặng lời với nhau, từ năm 2021 đến nay các bên ly thân, không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Hội đồng xét xử xét thấy sau khi phát sinh mâu thuẫn, anh chị đã được gia đình hai bên động viên, khuyên bảo để vợ chồng sống hòa thuận hơn, cùng nhau nuôi dạy con cái nhưng không đạt được kết quả, các bên không tìm được tiếng nói chung, hóa giải mâu thuẫn. Thực tế hiện nay, các bên đã sống ly thân thời gian dài, không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Khi xin ly hôn, chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục cùng anh M chung sống. Như vậy, tình trạng hôn nhân của vợ chồng đã thực sự trầm trọng, mục đích cuộc hôn nhân của anh chị đã không đạt được, cuộc sống chung không thể tiếp tục và kéo dài nên cần xem xét, chấp nhận giải quyết cho chị T được ly hôn với anh M là phù hợp với thực tế và quy định của pháp luật tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[4] Về con chung: Vợ chồng anh chị có một con chung là cháu Đinh Bùi Hà V (con gái), sinh ngày 03/12/2020, hiện tại cháu Hà V đang ở với chị T, khi xin ly hôn chị T không yêu cầu anh M phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Nay giải quyết cho anh chị ly hôn, Hội đồng xét xử thấy rằng cháu Hà V còn nhỏ (dưới 36 tháng tuổi) nên về nguyên tắc cần giao cháu cho mẹ đẻ trực tiếp nuôi dưỡng trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Do đó để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp về mọi mặt của con chung, cuộc sống của cháu Hà Vy được ổn định, không bị xáo trộn và phù hợp với điều kiện về tâm, sinh lý của cháu xét thấy cần thiết giao cháu Hà V cho chị T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu trưởng thành tự lập được hoặc đến khi có sự thay đổi khác, anh M không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp với điều kiện thực tế và quy định của pháp luật tại Điều 81của Luật hôn nhân và gia đình.

[5] Về con nuôi, con riêng: Do chị T xác nhận các bên không có con nuôi, con riêng và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét. Hiện tại chị T không có thai nghén gì.

[6] Về tài sản, công nợ chung: Đương sự không ai có yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản và công nợ chung của vợ chồng nên không đặt ra xem xét.

[7] Về án phí: Chị Bùi Thị T phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: Các đương sự thực hiện theo quy định pháp luật.

Vì"các"lẽ"trên;"

QUYẾT!ĐỊNH:!

!

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các điều 144, 147, 227, 228, 238, 271, 273, 278 và 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Bùi Thị T: Xử ly hôn giữa chị Bùi Thị T và anh Đinh Trọng Nguyên M.

2. Về con chung:

2.1. Giao cháu Đinh Bùi Hà V (con gái), sinh ngày 03/12/2020 là con chung của vợ chồng cho chị Bùi Thị T trực tiếp quản lý, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu Hà V trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Đinh Trọng Nguyên M không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

2.2. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

2.3. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về con riêng, con nuôi, tài sản chung và công nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Chị Bùi Thị T chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đồng, được đối trừ khoản tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0001617 ngày 06/03/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, chị T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo bản án: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ