- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị N xin ly hôn anh K"
- Tòa quyết gì? Xử: chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Minh N1.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2023/HNGĐ- ST Ngày 22/8/2023 “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Cao Thị Lan Anh.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thuỷ; 2. Bà Nguyễn Thị Hiền.
- Thư ký phiên tòa: bà Đỗ Thu Hà - Thư ký Toà án nhân dân thành phố cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: bà Phạm Thu Huyền - Kiểm sát viên.
Trong ngày 22/8/2023, tại Hội trường xét xử - Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số: 32/2023/TLST–HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 13/7/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2023/QĐST – HNGĐ ngày 01/8/2023 giữa các đương sự: Nguyên đơn: chị Nguyễn Minh N chỉ: tổ C, khu D, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng NinhVắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn: anh Nguyễn Văn K chỉ: tổ A, khu A, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninhmặt lần thứ 2 không có lý do. NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và lời khai tại hồ sơ nguyên đơn chị Nguyễn Minh N1 trình bày: chị và anh Nguyễn Văn K1 kết hôn năm 2019 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND phường C, thành phố C. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hoà hợp, chị và anh K1 khắc khẩu. Anh K1 mải chơi, không quan tâm đến vợ con, thường xuyên đi chơi qua đêm và 02 năm nay không về nhà ngủ ở nhà ngày nào. Vợ chồng thường xuyên cãi vã và cũng có lần xảy ra đánh nhau. Vợ chồng đã 02 lần sống ly thân, đến nay tình cảm vợ chồng không còn, chị kiên quyết xin ly hôn với anh K1.
- Về con chung: Chị và anh K1 có 01 con chung là Nguyễn Ánh D, sinh ngày 08/6/2020. Hàng tháng anh K1 vẫn chu cấp cho con chung 8.000.000 đồng (tám triệu đồng). Số tiền này anh K1 tháng nào cũng chuyển cho cho tôi qua tài khoản để nuôi con. Khi ly hôn, chị yêu cầu anh K1 cấp dưỡng 04 triệu đồng/ tháng để nuôi con.
- Về tài sản chung và vay, nợ chung: không có.
Anh Nguyễn Văn K1 vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án mặc dù đã được triệu tập hợp lệ.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Thẩm phán đã thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn, thụ lý vụ án đúng trình tự, thẩm quyền. Xác định đúng quan hệ tranh chấp và tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ đảm bảo. Trình tự thụ lý, thời hạn chuẩn bị xét xử, thời hạn chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc giao các thông báo, quyết định cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng và quá trình xét xử đảm bảo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: căn cứ Điều 56, Điều 81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình. Đề nghị: chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Minh N1. Chị Nguyễn Minh N1 được ly hôn với anh Nguyễn Văn K1. Về con chung đề nghị giao con chung cho chị N1 nuôi dưỡng, buộc anh K1 có trách nhiệm cấp dưỡng cho con chung từ 1.500.000 đồng đến 2.000.000 đồng/tháng là thỏa đáng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đương sự tranh chấp về Hôn nhân và gia đình, bị đơn có đăng ký thường trú tại phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt lần thứ 2 không lý do, nguyên đơn có đơn xin xử án vắng mặt do đó theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vụ án theo quy định chung.
[2] Về nội dung: hôn nhân giữa chị Nguyễn Minh N1 và anh Nguyễn Văn K1 là hôn nhân hợp pháp.
Về tình cảm: mâu thuẫn giữa chị Nguyễn Minh N1 và anh Nguyễn Văn K1 kéo dài, nguyên nhân chính xuất phát từ việc vợ chồng không hoà hợp, anh K1 thường xuyên không về nhà, vợ chồng thiếu sự quan tâm, chia sẻ, anh chị đã sống ly từ năm 2021. Anh K1 mặc dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản của Tòa án nhưng vắng mặt điều đó chứng tỏ anh K1 không quan tâm đến việc giải quyết mâu thuẫn gia đình. Chị N1 có yêu cầu xin ly hôn, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N1 về việc xin ly hôn như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tại phiên tòa.
Về con chung: chị Nguyễn Minh N1 và anh Nguyễn Văn K1 có 01 con chung là Nguyễn Ánh D, sinh ngày 08/6/2020. Khi vợ chồng sống ly thân con chung ở với chị. Chị N1 cung cấp nhiều tài liệu thể hiện mặc dù vợ chồng không hạnh phúc nhưng hàng tháng anh vẫn chuyển cho chị 8.000.000 đồng (tám triệu đồng) qua tài khoản của người khác đến tài khoản của chị để đảm bảo cuộc sống cho con chung. Khi ly hôn chị N1 đề nghị anh K1 cấp dưỡng nuôi con số tiền 4.000.000 đồng/ tháng. anh K1 vắng mặt không thể hiện quan điểm của mình. Anh K1 không làm cơ quan, doanh nghiệp nên chị N1 không cung cấp được thang bảng lương của anh K1. Do đó chỉ chấp nhận một phần yêu cầu của chị N1 về việc cấp dưỡng cho con mức cấp dưỡng hợp lý từ 1.500.000 đồng đến 2.000.000 đồng để đảm bảo nhu cầu thiết yếu của con với số tiền như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là có cơ sở chấp nhận.
Về tài sản chung và vay nợ chung: không có.
[3] Về án phí: chị N1 phải chịu án phí ly hôn và anh K1 phải chịu án phí cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
[4] Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Xử: chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Minh N1.
Về tình cảm: chị Nguyễn Minh N1 được ly hôn với anh Nguyễn Văn K1.
Về con chung: xử giao cho chị Nguyễn Minh N1 là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Nguyễn Ánh Dương, sinh ngày 08/6/2020. Anh Nguyễn Văn K1 có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chung 2.000.000 đồng/ tháng (hai triệu đồng/ một tháng), thời gian cấp dưỡng từ tháng 8 năm 2023 cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi) và có quyền thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về án phí: chị Nguyễn Minh N1 phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị N1 đã nộp tại biên lai thu tiền số 0005316 ngày 27/4/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả. Chị N1 đã nộp đủ án phí ly hôn. Anh Nguyễn Văn K1 phải nộp 300.000 đồng(ba trăm nghìn) án phí cấp dưỡng.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ