vanban.org

Bản án 31/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn kiện xin ly hôn của bà Phùng Thị Thư S đối với ông Nguyễn Quốc T.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phùng Thị Thư S được ly hôn với ông Nguyễn Quốc T. Về con chung: Giao con Nguyễn Hoàng Trúc L, sinh ngày 12/5/2016 cho bà Phùng Thị Thư S được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi, ông Nguyễn Quốc T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng, thời gian… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn kiện xin ly hôn của bà Phùng Thị Thư S đối với ông Nguyễn Quốc T.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGŨ HÀNH SƠN
TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 18 - 9 - 2023
V/v tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN- TP. ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Lâm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Sơn

2. Ông Nguyễn Tuấn Ngọc

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Bích Hậu - Thư ký tòa án nhân dân Quận Ngũ Hành Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Đặng Thái Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngũ hành Sơn, TP. Đà Nẵng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 48/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2023/QĐXX-ST ngày 15 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phùng Thị Thƣ S, sinh năm: 1995

Địa chỉ: Tổ 70, phường Hòa H, quận Ngũ Hành S, thành phố Đà Nẵng- Có mặt;

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Quốc T, sinh năm: 1996

Địa chỉ: Tổ 70, phường Hòa H, quận Ngũ Hành S, thành phố Đà Nẵng- Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 09/11/2022, bản trình bày và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Phùng Thị Thư S trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông Nguyễn Quốc T kết hôn vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Trong thời gian chung sống vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân do ông T thường xuyên ăn nhậu, chơi bời không lo làm việc, không quan tâm đến vợ con và đôi khi còn đánh đập tôi, tôi đã nhiều lần bỏ qua nhưng ông T vẫn không thay đổi nên tôi đã đưa con về nhà mẹ đẻ tại tổ 69, phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn để sống.

Hiên nay, vợ chồng không còn phù hợp nhau về mọi mặt, cả hai không còn tình cảm gì với nhau nên tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông Nguyễn Quốc T.

- Về con chung: Chúng tôi có một con chung là Nguyễn Hoàng Trúc L, sinh ngày 12/5/2016. Ly hôn, tôi xin được nuôi con và yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi.

- Về tài sản chung: Không có.

- Về nợ chung: Không có.

Bị đơn ông Nguyễn Quốc T đã được tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để ông T trình bày ý kiến, cung cấp các chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, nhưng ông T vẫn vắng mặt nên tòa án không có lời khai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn phát biểu ý kiến về việc Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ và đúng pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, đồng thời những người tham gia tố tụng cũng đã chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Riêng bị đơn là ông Nguyễn Quốc T đã không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 51; 56; 58, 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình. Căn cứ các Điều 35; 147, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn và nuôi con chung của bà Phùng Thị Thư S đối với ông Nguyễn Quốc T.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phùng Thị Thư S được ly hôn với ông Nguyễn Quốc T.

Về con chung: Giao con Nguyễn Hoàng Trúc L, sinh ngày 12/5/2016 cho bà Phùng Thị Thư S được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi, ông Nguyễn Quốc T có ngĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng.

Về tài sản chung và nợ chung: Không đề cập đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1]

Về thủ tục tố tụng: Theo đơn khởi kiện của bà Phùng Thị Thư S nộp tại Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng và Tòa án đã thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại Điều 28; Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, bị đơn là ông Nguyễn Quốc T vắng mặt không có lý do. Xét thấy trong qúa trình giải quyết vụ án, tòa án đã thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho bị đơn đầy đủ. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. [2]

Về nội dung vụ án: Bà Phùng Thị Thư S và ông Nguyễn Quốc T kết hôn vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Đây là đôi hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Theo khai nại của bà S, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do ông T thường xuyên ăn nhậu, chơi bời không lo làm việc, không quan tâm đến vợ con và đôi khi còn đánh đập bà.

Qua quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: Quan hệ hôn nhân giữa bà S và ông T tồn tại nhưng không thực sự hạnh phúc, trong thời gian chung sống cả hai vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, giữa họ chỉ có trên danh nghĩa vợ chồng, đã từ lâu không còn trách nhiệm gì với nhau. Do đó, bà S đã đưa con về nhà cha mẹ đẻ và sống ly thân ông T từ tháng 7/2022 đến nay.

Việc bà S cương quyết xin ly hôn còn ông T vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án nên Tòa án cũng không có ý kiến của ông T để hòa giải, động viên vợ chồng về sống đoàn tụ gia đình, nhằm khắc phục được sự mâu thuẫn để có sức thuyết phục, níu kéo bà S trở lại hàn gắn hạnh phúc gia đình để nuôi dạy con cái trưởng thành. Vì vậy, Hội đồng xét xử cũng không có cơ sở để bảo vệ cho ông T được.

Qua điều tra, xác minh tại địa phương cho thấy bà bà Phùng Thị Thư S và ông Nguyễn Quốc T có cư trú tại tôt 70, phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng; về tình trạng hôn nhân giữa bà S và ông T thì tổ không nắm rõ, vì không thấy xảy ra xung đột, mâu thuẫn gì gây mất trật tự tại địa phương. Do đó, Tòa án giải quyết theo pháp luật.

Hội đồng xét xử xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn tại phiên tòa về căn cứ các điều luật áp dụng cũng như như đề nghị chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn là có căn cứ. [3] Từ những nhận định trên Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà Phùng Thị Thư S và ông Nguyễn Quốc T thực sự đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nghĩ nên chấp nhận cho bà Phùng Thị Thư S được ly hôn ông Nguyễn Quốc T để giải phóng cho nhau là hoàn toàn phù hợp với khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

- Về con chung: Vợ chồng bà S và ông T có 01 con chung tên Nguyễn Hoàng Trúc L, sinh ngày 12/5/2016. Ly hôn, bà S có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con cho đến khi con đủ 18 tuổi và yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng.

Xét việc giao con cho ai trông nom, nuôi dưỡng đều phải dựa vào quyền lợi mọi mặt của đứa trẻ. Ở đây cháu Trúc L hiện còn nhỏ và đang ở với mẹ từ trước đến nay nên cuộc sống của cháu cần có sự chăm sóc của người mẹ để đảm bảo cho sự phát triển về thể chất, tinh thần cũng như việc nuôi dưỡng của mẹ đối với con; hơn nữa cháu L có nguyện vọng được ở với mẹ. Xuất phát từ quyền lợi mọi mặt của cháu, Hội đồng xét xử xét cần giao cháu Nguyễn Hoàng Trúc L cho bà S được trực tiếp nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Tại phiên tòa bà S yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng, cho đến khi con đủ 18 tuổi. Xét yêu cầu của bà S là phù hợp với khoản 2 điều 82 Luật hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.

- Về tài sản chung: Bà S xác định không có nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

- Về nợ chung: Bà S xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Án phí ly hôn sơ thẩm: 300.000 đồng, bà Phùng Thị Thư S phải chịu.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình. Điều 147; khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Chấp nhận đơn kiện xin ly hôn của bà Phùng Thị Thư S đối với ông Nguyễn Quốc T.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phùng Thị Thư S được ly hôn với ông Nguyễn Quốc T.

2. Về con chung: Giao con Nguyễn Hoàng Trúc L, sinh ngày 12/5/2016 cho bà Phùng Thị Thư S được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi, ông Nguyễn Quốc T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng kể từ ngày 19/9/2023 cho đến khi con đủ 18 tuổi.

Bên không trực tiếp nuôi con vẫn có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Khi cần thiết vì lợi ích của con, các bên có quyền làm đơn xin thay đổi nuôi con hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ đối với các khoản tiền phải trả, thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không đề cập đến.

4. Án phí ly hôn sơ thẩm: 300.000 đồng, bà Phùng Thị Thư S phải chịu, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng, theo biên lai thu số 0009703 ngày 23/6/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ