vanban.org

Bản án 31/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh N được ly hôn Anh Trần Văn M.

Về con chung: Giao cháu Trần Nhật Bảo L, sinh ngày 02-03-2012 cho chị Nguyễn Thị Thanh N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, Anh Trần Văn M không phải cấp dưỡng nuôi con cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh N được ly hôn Anh Trần Văn M.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TY, TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2023/HNGĐ-ST
Ngày 31-5-2023
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TY,TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Phương Đông.

2. Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Anh Đào – Thư ký Toà án nhân dân huyện TY, tỉnh Yên Bái.

Ngày 31-5-2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện TY, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 14/2023/TLST-HNGĐ ngày 16-02-2023 về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 24-4-2023 và Thông báo mở lại phiên toà số 12/TB-TA ngày 15 - 5 -2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 1991. Có mặt.

Địa chỉ: Thôn ĐT, xã PT, huyện YB, tỉnh Yên Bái.

2. Bị đơn: Anh Trần Văn M, sinh năm 1989. Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn 8 MP, xã VH, huyện TY, tỉnh Yên Bái.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 22-12-2022, trong quá trình giải quyết vụ án, và tại phiên toà, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh N và Anh Trần Văn M kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã VH, huyện TY, tỉnh Yên Bái vào ngày 03-10-2011. Sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng hoà thuận hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm về cách sinh hoạt, về cách nuôi dạy con cái. Đến năm 2018, chị N đưa con về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay không quan tâm đến nhau. Nay chị N xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Toà án nhân dân huyện TY giải quyết cho chị được ly hôn Anh Trần Văn M.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thanh N và Anh Trần Văn M có một con chung là Trần Nhật Bảo L, sinh ngày 02-3-2012. Ly hôn, chị N có nguyện vọng được nuôi con, không yêu cầu anh Mcấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện TY đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật và tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ. Tuy nhiên bị đơn Anh Trần Văn M không có mặt tại Tòa án và không có bản tự khai. Do đó, trong hồ sơ vụ án không có lời khai của anh Mvà Tòa án không tiến hành hòa giải được.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện TY nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn Anh Trần Văn M có đăng ký hộ khẩu tại Thôn 8 MP, xã VH, huyện TY, tỉnh Yên Bái nên yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Thanh N thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện TY, tỉnh Yên Bái.

Bị đơn Anh Trần Văn M vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh N và Anh Trần Văn M kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã VH, huyện TY, tỉnh Yên Bái vào ngày 03-10-2011 là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hoà thuận, hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị Nguyễn Thị Thanh N là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cách sống, cách nuôi dạy con cái. Chị Nđã đưa con về nhà bố mẹ đẻ tại xã Phú Thịnh, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái sinh sống từ năm 2018, vợ chồng ly thân đến nay và không còn quan tâm đến nhau. Tòa án nhân dân huyện TY, tỉnh Yên Bái đã thông báo nhiều lần nhưng bị đơn anh Mkhông đến Tòa, không có bản tự khai gửi cho Toà án, không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân giữa chị N, anh Mđã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung thực tế đã không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó có căn cứ cho chị Nguyễn Thị Thanh N được ly hôn Anh Trần Văn M theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thanh N và Anh Trần Văn M có một con chung là Trần Nhật Bảo L, sinh ngày 02-3-2012 và có nguyện vọng được sống với mẹ. Ly hôn, chị Ncó nguyện vọng được nuôi con, không yêu cầu anh Mcấp dưỡng. Đồng thời anh Mkhông đến Toà án và không có lời khai thể hiện nguyện vọng được nuôi con, vì vậy để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, đảm bảo về điều kiện tinh thần và cuộc sống ổn định cần tiếp tục giao cháu Trần Nhật Bảo L cho chị Nguyễn Thị Thanh N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Xét thấy anh Mvắng mặt tại Tòa án, chị Ncũng không yêu cầu anh Mcấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không xem xét giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Thanh N không yêu cầu Tòa án giải quyết, mặt khác do anh Mchưa có lời khai nên chưa có cơ sở xem xét. Vì vậy, Tòa án không đặt ra giải quyết quan hệ về tài sản và nợ chung.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thanh N phải chịu án phí DSST ly hôn theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh N được ly hôn Anh Trần Văn M.

2. Về con chung: Giao cháu Trần Nhật Bảo L, sinh ngày 02-03-2012 cho chị Nguyễn Thị Thanh N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, Anh Trần Văn M không phải cấp dưỡng nuôi con cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thanh N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2022/0000307 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện TY, tỉnh Yên Bái ngày 16-02-2023.

4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ