- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bùi Thị H "Tranh chấp ly hôn" Phan Văn D"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị H về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với ông Phan Văn D.
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2023/HNGĐ-ST Ngày: 27-4-2023 “V/v Ly hôn, Tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA - TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Tơ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tấn Tiển
Ông Trịnh Thế Phương Nam
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Nhàn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa. Đại diệnViện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa: Ông Nguyễn Thường Ân - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số: 03/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2023 về việc “Ly hôn, Tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2023/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 3 năm 2023 giữa:
Nguyên đơn: Bà Bùi Thị H, sinh năm 1970; (Có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Số X, khu phố NT, thị trấn TT, huyện TT, tỉnh Long An.
Bị đơn: Ông Phan Văn D, sinh năm 1970; (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số X, khu phố NT, thị trấn TT, huyện TT, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 25/8/2022 và lời trình bày trong quá trình tố tụng giải quyết vụ án nguyên đơn bà Bùi Thị H trình bày: Bà với ông Phan Văn D tự nguyện đi đến hôn nhân được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới vào năm 1987. Ông bà có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn TT, huyện TT, tỉnh Long An theo giấy chứng nhận kết hôn số 66/2019 ngày 11/7/2019. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, không hạnh phúc. Bà không còn tình cảm yêu thương với ông D nên yêu cầu được ly hôn.
Về nuôi con chung: Bà với ông D có 02 con chung tên Phan Văn M, sinh ngày 26/9/1989, con Phan Văn T, sinh ngày 15/7/1991. Hai con đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về chia tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Phan Văn D trình bày tại biên bản lấy lời khai ngày 23/4/2023: Ông với bà H tự nguyện cưới nhau vào năm 1987 và có đăng ký kết hôn vào năm 2019 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Thủ Thừa. Đến năm 2020 thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do từ khi ông xảy ra tai nạn lao động ảnh hưởng đến đôi mắt. Bà H xin ly hôn ông không đồng ý ly hôn. Ông chỉ đồng ý ly hôn khi nào mắt ông được trở lại bình thường. Về con chung: Ông với bà H có hai con chung tên Phan Văn M, sinh năm 1989 và Phan Văn T sinh năm, 1991. Các con đã trưởng thành. Về tài sản chung: Ông đã giao toàn bộ tài sản cho bà H, không yệu cầu giải quyết. Về nợ chung: Không có.
Ngày 06/01/2023 Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa thụ lý vụ án.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát Thủ Thừa về quan điểm nội dung vụ án: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng được thực hiện theo đúng trình tự quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Bùi Thị H: Bà H với ông Phan Văn D được ly hôn; Về nuôi con chung: Hai con Phan Văn M và Phan Văn T đã trưởng thành; Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bà Bùi Thị H yêu cầu ly hôn với ông Phan Văn D. Căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, Tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm của tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa.
Về sự vắng mặt của đương sự: Bà Bùi Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt. Ông Phan Văn D đã được Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừ a tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng ông Hoàng Anh vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị H với ông Phan Văn D tự nguyện đi đến hôn nhân được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới vào năm 1987. Ông D, bà H có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn TT, huyện TT, tỉnh Long An theo giấy chứng nhận kết hôn số 66 ngày 11/7/2019. Quá trình chung sống, ông D, bà H phát sinh mâu thuẫn. Bà H cho rằng cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, không còn tình cảm yêu thương với ông D nên yêu cầu được ly hôn. Ông D thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn nhau kể từ khi ông D bị tai nạn lao động. Ông D không đồng ý ly hôn và chỉ đồng ý ly hôn khi nào mắt ông khỏi bệnh. Tòa án trực tiếp lấy lời khai của ông D, mời Phan Văn M, Phan Văn T là hai con trai ruột của ông D làm việc và bà Phan Kim H1 là chị ruột của ông D là người làm chứng của quá trình làm việc trực tiếp với ông D. Tất cà không ai cung cấp các giấy tờ, tài liệu, chứng cứ liên quan đến bệnh về mắt của ông D. Do vậy, Hội đồng xét xữ nhận thấy hôn nhân giữa bà H và ông D đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên chấp nhận đơn ly hôn của bà H.
Về nuôi con chung: Ông D và bà H có hai con chung Phan Văn M, sinh năm 1989 và Phan Văn T, sinh năm 1991. Hai con đã trên 18 tuổi nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bà H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn. Ông D không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị H về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với ông Phan Văn D.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị H được ly hôn với ông Phan Văn D.
2. Về nuôi con chung: Ông D và bà H có hai con chung Phan Văn M, sinh năm 1989 và Phan Văn T, sinh năm 1991. Hai con đã trên 18 tuổi nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
3. Về tài sản chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết.
4. Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
5. Về án phí: Bà H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chuyển 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà H nộp ngày 06/01/2023 biên thu lai số 0002847 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa sang án phí.
6. Án xử sơ thẩm, các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc từ ngày niêm yết bản án hợp lệ.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - VKSND huyện Thủ Thừa; - Chi cục THADS huyện Thủ Thừa; - UBND thị trấn Thủ Thừa; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ; án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Tơ |