vanban.org

Bản án 31/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Bùi Anh T được ly hôn chị Nguyễn Thị D.

2/Về con chung: Xử giao con chung Bùi Bảo L1, sinh ngày 31/10/2011 cho chị D được trực tiếp nuôi dưỡng, anh T nhận cấp dưỡng nuôi con chung 1.500.000đồng/1 tháng, thời gian cấp dưỡng nuôi con chung được tính từ tháng 5/2023 đến khi con chung tròn 18 tuổi. Anh T có quyền đi lại thăm nom con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa Nguyên đơn: Anh Bùi Anh T, sinh năm 1979 Nơi cư trú: Đội Z, thôn Tr, xã N, huyện L, tỉnh Ninh Bình.Bị đ…"
  • Tòa quyết gì? 1/Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Bùi Anh T được ly hôn chị Nguyễn Thị D.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình xử; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲNH PHỤ
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2023/HNGĐ-ST
Ngày 12-5-2023
“V/v ly hôn giữa anh T và chị D”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

-Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Đức

- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Thúy Mùi.

2. Bà Vũ Thị Ngân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Vi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 11/2023/TLST–HNGĐ ngày 02 tháng 02 năm 2023 về tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2023/Q§ST-DS ngày 24/4/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Bùi Anh T, sinh năm 1979

Nơi cư trú: Đội Z, thôn Tr, xã N, huyện L, tỉnh Ninh Bình.

-Bị đơn: Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1984

Nơi cư trú: Thôn V, xã H, huyện Qu, tỉnh Thái Bình.

(Anh T có đơn xin xử án vắng mặt, chị D vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện được bổ sung bằng biên bản ghi lời khai, nguyên đơn là anh Bùi Anh Ttrình bày: Anh và chị Nguyễn Thị D tự do, tự nguyện tìm hiểu kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Qu, tỉnh Thái Bình vào ngày 19/01/2011. Sau khi kết hôn, vợ chồng vào miền Nam sinh sống và lao động tự do. Trong quá trình chung sống, do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống đã dẫn đến phát sinh mâu thuẫn. Từ năm 2020 mâu thuẫn căng thẳng, chị D đã đưa con chung trở về gia đình bố mẹ đẻ tại xã H sinh sống và sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, anh T khởi kiện đề nghị xin được ly hôn chị D.

Về con chung: Anh T khai vợ chồng có 01 con chung là Bùi Bảo L1, sinh ngày 31/10/2011, con chung hiện do chị D đang trực tiếp nuôi dưỡng, nếu ly hôn xảy ra anh đề nghị để chị D được trực tiếp nuôi dưỡng con chung anh nhận cấp dưỡng nuôi con chung 1.500.000 đồng/1 tháng.

Về tài sản chung: Anh T khai vợ chồng không có tài sản chung, vợ chồng không có nợ chung và không ai nợ vợ chồng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn là chị Nguyễn Thị D: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập và tống đạt hợp lệ mọi văn bản tố tụng cần thiết cho chị D biết và đến Tòa án giải quyết vụ kiện, nhưng chị D vẫn vắng mặt, không đến Tòa án giải quyết việc ly hôn, vì vậy Tòa án không ghi được lời khai của chị D và không tiến hành hòa giải được. Tại phiên tòa lần 1 và lần 2 chị D vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ tại phiên tòa phát biểu ý kiến: Hồ sơ vụ án từ giai đoạn thụ lý vụ án đến khi xét xử, Thẩm phán thụ lý giải quyết vụ án đã lập và thu thập đầy đủ các tài liệu và chứng cứ, tuân thủ đúng trình tự luật định. Tại phiên tòa việc xét xử vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ theo đúng trình tự pháp luật. Đối với nguyên đơn trong các giai đoạn tố tụng đã chấp hành đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn vắng mặt tại các phiên hòa giải là chấp hành chưa tốt các quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTV QH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Tđược ly hôn chị D; Về con chung: Xử giao con chung Bùi Bảo L1, sinh ngày 31/10/2011 cho chị D được trực tiếp nuôi dưỡng, anh T nhận cấp dưỡng nuôi con chung 1.500.000đồng/1 tháng; Về tài sản chung Đương sự không yêu cầu giải quyết vì vậy không đặt ra giải quyết; Anh T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả thẩm vấn tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bị đơn có nơi cư trú tại Thôn V, xã H, huyện Qu, tỉnh Thái Bình, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình theo quy định tại Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn có đơn gửi Tòa án xin được xét xử vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm lần 2. Bị đơn đã được tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Hôn nhân giữa Anh Bùi Anh T và chị Nguyễn Thị D được xác lập trên cơ sở tự do, tự nguyện tìm hiểu kết hôn có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Qu vào ngày 19/01/2011 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh T và chị D sinh sống và lao động tự do tại miền Nam. Trong quá trình chung sống do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống đã dẫn đến phát sinh mâu thuẫn, Từ năm 2020 mâu thuẫn căng thẳng, hai bên đã sống ly thân, chị D đã đưa con chung trở về xã H, huyện Qu sinh sống. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, anh Tlàm đơn khởi kiện đề nghị xin được ly hôn. Còn đối với chị D quá trình giải quyết vụ kiện, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ để chị D biết và đến Tòa án tham gia hòa giải, vợ chồng có cơ hội gặp gỡ trở về đoàn tụ, nhưng chị D vắng mặt. Qua xác minh lời khai ông Vũ Văn B là bố đẻ chị D và ông Đào Văn Ng là phó chủ tịch UBND xã H đều xác nhận chị D đăng ký hộ khẩu và cư trú cùng gia đình tại thôn V, xã H, hiện tại chị D đi làm công nhân sáng đi, tối về nhà vì vậy không thể đến Tòa án tham gia tố tụng được. Quan điểm của ông B và ông Ng đều đề nghị Tòa án căn cứ vào thực trạng hôn nhân để giải quyết cho anh T được ly hôn chị D vì hai bên đã sống ly thân thời gian dài và không còn thương yêu nhau nữa. Đối với anh T tại phiên tòa lần 2 anh có đơn xin xử án vắng mặt và vẫn giữ nguyên quan điểm xin được ly hôn. Điều đó chứng tỏ cuộc sống tình cảm vợ chồng giữa anh T và chị D đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài, cần căn cứ vào Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho anh T được ly hôn chị D là có căn cứ.

Về con chung: Xét yêu cầu của đương sự về nuôi dưỡng con chung cho thấy anh Tchị D có 01 con chung là Bùi Bảo L1, sinh ngày 31/10/2011. Con chung được chị D trực tiếp nuôi dưỡng kể từ khi sống ly thân cho đến nay, qua xác minh cho thấy hiện chị D làm công nhân có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, đối với cháu L1hiện đang sinh sống và ổn định học tập tại nơi cư trú và có ý kiến xin được sinh sống cùng với mẹ, vì vậy cần xử giao con chung cho chị D được trực tiếp nuôi dưỡng và anh Tnhận cấp dưỡng nuôi con chung 1.500.000đồng/1tháng là phù hợp với Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy phần tài sản Tòa án không xét.

Về án phí: Anh T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Anh T và chị D có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTV QH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1/Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Bùi Anh T được ly hôn chị Nguyễn Thị D.

2/Về con chung: Xử giao con chung Bùi Bảo L1, sinh ngày 31/10/2011 cho chị D được trực tiếp nuôi dưỡng, anh T nhận cấp dưỡng nuôi con chung 1.500.000đồng/1 tháng, thời gian cấp dưỡng nuôi con chung được tính từ tháng 5/2023 đến khi con chung tròn 18 tuổi.

Anh T có quyền đi lại thăm nom con chung.

3/Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4/Về án phí: Anh T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung. Chuyển số tiền 300.000 đồng anh T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0004964 ngày 02/02/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ thành tiền án phí.

5/Về quyền kháng cáo: Anh T và chị D có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.

Cỡ chữ