vanban.org

Bản án 31/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Y được ly hôn anh Nguyễn Hữu Tr. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn Nguyễn Thị Y - Nguyễn Hữu Tr"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲNH LƯU
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 23-6-2023
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Thanh Thủy.

2. Bà Hồ Thị Huệ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Phương Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 92/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2022 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định hoãn phiên tòa số 24/2023/QĐST-HNGĐ ngày 23/5/2023, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2023 và Thông báo về việc thay đổi lịch xét xử, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Y, sinh năm 1991. Nơi cư trú: Xóm 2 xã S H, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu Tr, sinh năm 1986. Nơi cư trú: Xóm 2, xã S H, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 31 tháng 01 năm 2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Y trình bày: Chị và anh Nguyễn Hữu Tr lấy nhau trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S H ngày 22/12/2012. Thời gian đầu sau khi kết hôn tình cảm bình thường, đến năm 2019 vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn căng thẳng, thường xuyên cãi vã, bất đồng quan điểm, anh Tr không quan tâm tới vợ, con. Bố mẹ hai bên khuyên bàn, hòa giải nhưng không có kết quả. Cuộc sống chung mệt mỏi, không hạnh phúc. Chị và anh Tr sống ly thân. Trong thời gian sống ly thân anh Tr cũng không thay đổi để cùng chị lo cho con cái. Chị xác định tình cảm vợ chồng đã hết nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Tr. Vợ chồng có 02 (hai) con chung Nguyễn Gia H, sinh ngày 12/8/2013 và Nguyễn Ngọc Linh Đ, sinh ngày 21/3/2018. Trước khi nộp đơn ly hôn chị và anh Tr trao đổi và thống nhất anh Tr nuôi cháu Gia H, chị nuôi cháu Linh Đ, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản.

Tại Biên bản lấy lời khai, bị đơn anh Nguyễn Hữu Tr trình bày: thống nhất với chị Y về thời gian, điều kiện kết hôn, con chung. Anh thừa nhận vợ chồng sống ly thân từ năm 2019 đến nay do cãi vả vì kinh tế khó khăn và không có biện pháp khắc phục mâu thuẫn. Anh đang còn tình cảm với chị Y, mong chị Y cho anh cơ hội. Trường hợp ly hôn, anh thống nhất với ý kiến của chị Y, giao con chung Nguyễn Gia H cho anh, giao con chung Nguyễn Ngọc Linh Đ cho chị Yến, trực tiếp nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Anh làm nghề đánh cá thu nhập cũng đảm bảo nuôi con được đầy đủ. Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.

Ý kiến cháu Nguyễn Gia H: Cháu có nguyện vọng được ở với mẹ.

Kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân xã S H: Anh Tr có đăng ký hộ khẩu thường trú tại xóm 2, xã S H. Nguyên nhân mâu thuẫn như thế nào địa phương không rõ vì không qua hòa giải tại cơ sở. Chị Y yêu cầu giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng từ khi thụ lý, thu thập chứng cứ giải quyết vụ án, tống đạt văn bản cho Viện kiểm sát và đương sự của Thẩm phán hoàn toàn đúng, đầy đủ theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử, thư ký tuân theo quy định pháp luật trong quá trình xét xử. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt. Bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật, đã được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử hai lần, thông báo về việc thay đổi lịch xét xử và có ý kiến đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đương sự là đúng quy định.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cho chị Y được ly hôn anh Tr. Giao con Nguyễn Gia H, sinh ngày 12/8/2013 cho anh Tr trực tiếp nuôi dưỡng; Nguyễn Ngọc Linh Đ, sinh ngày 21/3/2018 cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh Tr, chị Y vì không ai yêu cầu. Tài sản chung không giải quyết. Nguyên đơn phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, ý kiến Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây vụ án về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, bị đơn anh Nguyễn Hữu Tr cư trú tại xã S H, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 và khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử hai lần, thông báo thay đổi lịch xét xử và có ý kiến đề nghị xét xử vắng mặt, áp dụng Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về nội dung:

Quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Y, anh Tr là hợp pháp, tuân thủ điều kiện pháp luật quy định (Giấy chứng nhận kết hôn số 30/2012). Các bên đương sự thừa nhận trong cuộc sống có phát sinh mâu thuẫn do quan điểm, tính cách bất đồng, kinh tế khó khăn, hiện đang sống ly thân và không tìm được biện pháp để giải quyết mâu thuẫn. Tòa án báo gọi anh Tr đến hòa giải tạo điều kiện để vợ chồng hàn gắn tình cảm đoàn tụ nhưng anh Tr không đến. Anh Tr không đồng ý ly hôn vì đang còn tình cảm với chị Y. Chị Y giữ nguyên quan điểm xin ly hôn. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị Y, anh Tr đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung đã chấm dứt. Do đó cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Y được ly hôn anh Tr.

Về con chung: Vợ chồng có 02 (hai) con chung Nguyễn Gia H, sinh ngày 12/8/2013 và Nguyễn Ngọc Linh Đ, sinh ngày 21/3/2018, hiện nay cháu Gia H đang ở với anh Tr, cháu Linh Đ đang ở với chị Y, các con đều đã ổn định cuộc sống, học tập và phát triển thể chất khỏe mạnh. Chị Y, anh Tr đều thống nhất về việc nuôi con nên công nhận sự thỏa thuận giữa anh Tr, chị Y. Giao con chung Nguyễn Gia H cho anh Tr và giao Nguyễn Ngọc Linh Đ cho chị Y, trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho chị Y, anh Tr vì không ai yêu cầu.

Chị Y, anh Tr có quyền đi lại, thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về tài sản chung: Không ai yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Các Điều 28, 35, 39, khoản 1 Điều 40, 147, 227, 228, 238 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Y được ly hôn anh Nguyễn Hữu Tr.

2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Gia H, sinh ngày 12/8/2013 cho anh Nguyễn Hữu Tr trực tiếp nuôi dưỡng. Giao con Nguyễn Ngọc Linh Đ, sinh ngày 21/3/2018 cho chị Nguyễn Thị Y trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho chị Y, anh Tr vì không ai yêu cầu.

Chị Nguyễn Thị Y và anh Nguyễn Hữu Tr có quyền đi lại, thăm nom con chung không ai được cản trở.

3. Về tài sản: Không xem xét.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Y phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An theo Biên lai thu tiền số 0000150 ngày 17/3/2023.

5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ