vanban.org

Bản án 31/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Hồ Thị Kim Ng.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị Kim Ng được ly hôn với anh Phạm Minh B. Về con chung: Có 02 con chung tên Phạm Nhật H, sinh ngày 16/6/2005; Phạm Quỳnh A, sinh ngày 05/7/2008. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Hồ Thị Kim Ng xin được ly hôn với anh Phạm Minh B"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Hồ Thị Kim Ng.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG THÀNH
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 05/4/2023
V/v: “Tranh chấp ly hôn, con chung”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH – TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Trung.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Ánh Sáng.

2. Ông Phạm Văn Huynh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải – Kiểm sát viên.

Trong ngày 05/4/2023 tại Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 913/2022/TLST – HNGĐ ngày 09/11/2022 về “Tranh chấp ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2023/QĐXXST– HNGĐ ngày 24/02/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 44/2023/QĐST – HNGĐ ngày 16/3/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hồ Thị Kim Ng, sinh năm 1984.

Địa chỉ: A, Tổ B, Ấp C, xã TH, huyện LT, Đồng Nai.

- Bị đơn: Anh Phạm Minh B, sinh năm 1979.

Địa chỉ: A, Tổ B, Ấp C, xã TH, huyện LT, Đồng Nai.

Chị Ng có đơn xin vắng mặt; anh B vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn chị hồ Thị Kim Ng trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Ng và anh Phạm Minh B kết hôn với nhau năm 2005 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Bàu Cạn. Vợ chồng chị kết hôn đã mười mấy năm nhưng chưa hề có tiếng nói chung vì anh B là người thô lỗ, cọc cằn. Anh B chưa bao giờ tôn trọng vợ và từ đó vợ chồng luôn bất hòa khiến chị không thể chịu đựng được. Nay, xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị làm đơn xin được ly hôn.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung tên Phạm Nhật H, sinh ngày 16/6/2005; Phạm Quỳnh A, sinh ngày 05/7/2008. Ly hôn, chị xin nuôi cháu H, giao cháu Quỳnh A cho anh B nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: không có

Về nợ chung: không có.

* Quá trình giải quyết vụ án, anh Phạm Minh B vắng mặt nên không có lời khai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành có ý kiến:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký: Về việc thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật, tư cách tố tụng, về việc xác minh, thu thập các tài liệu chứng cứ vụ án và thời hạn chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử đều được Thẩm phán thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

- Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Ng và anh B được xây dựng trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn nên được pháp luật B vệ. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án chấp nhận đơn ly hôn của chị Ng.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung tên Phạm Nhật H, sinh ngày 16/6/2005; Phạm Quỳnh A, sinh ngày 05/7/2008. Đề nghị giao cháu H cho chị Ng, giao cháu Quỳnh A cho anh B nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: không có nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về nợ chung: không có nên không đặt ra xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

- Thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Phạm Minh B có hộ khẩu thường trú và hiện đang cư trú tại xã TH, huyện LT, tỉnh Đồng Nai nên Tòa án nhân dân huyện Long Thành thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1, Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về quan hệ pháp luật: Chị Ng khởi kiện xin được ly hôn và giải quyết vấn đề con chung. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Long Thành căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ là “Tranh chấp ly hôn, con chung”.

- Chị Hồ Thị Kim Ng là nguyên đơn trong vụ án có đơn xin vắng mặt khi xét xử; anh Phạm Minh B là bị đơn đã được Tòa án nhân dân huyện Long Thành triệu tập xét xử đến lần thứ 02 nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Long Thành vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định của pháp luật.

Nội dụng vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị Kim Ng và anh Phạm Minh B tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2005 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Bàu Cạn, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai nên được coi là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật B vệ.

Theo chị Ng, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do anh B là người người thô lỗ, cọc cằn và chưa bao giờ tôn trọng vợ. Chị không chịu đựng được nữa nên làm đơn xin được ly hôn.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Long Thành đã tiến hành xác minh tại địa phương thì UBND xã Tân Hiệp không biết tình trạng mâu thuẫn do chị không trình báo. Tuy nhiên, qua lời khai của cháu H và cháu Quỳnh A thì có căn cứ xác định vợ chồng chị Ng thường xuyên cãi nhau, anh B thậm chí còn dùng bạo lực đối với chị . Ngoài ra, Tòa án nhân dân huyện Long Thành đã nhiều lần triệu tập anh B đến làm việc, làm rõ nội dung vụ án nhưng anh B cố tình vắng mặt không có lý do. Điều này chứng tỏ anh B cũng không quan tâm đến hạnh phúc gia đình nữa, nếu có tiếp tục sống chung cũng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chấp nhận đơn khởi kiện ly hôn của chị Ng, cho chị Ng được ly hôn với anh B.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung tên Phạm Nhật H, sinh ngày 16/6/2005; Phạm Quỳnh A, sinh ngày 05/7/2008. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Long Thành đã tham khảo ý kiến của 02 cháu thì cả 02 cháu đều có nguyện vọng được ở với mẹ. Tuy nhiên, tại đơn khởi kiện ly hôn và bản tự khai, chị Ng đề nghị được nuôi cháu H, giao cháu Quỳnh A cho anh B nuôi dưỡng. Vì vậy, giao cháu H cho chị Ng; giao cháu Quỳnh A cho anh B trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng, tạm thời không ai không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Ng xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung. Tuy nhiên, do chưa có ý kiến trình bày của anh B nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết. Các đương sự có quyền đề nghị Tòa án giải quyết vấn đề tài sản chung, nợ chung bằng vụ kiện khác khi có yêu cầu.

Về án phí HNGĐ - ST: Chị Ng phải nộp 300.000đ án phí ly hôn.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1, Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228; Điều 203, 220, 235, 264, 266 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ vào Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 51, 56; Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Hồ Thị Kim Ng.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị Kim Ng được ly hôn với anh Phạm Minh B.

Về con chung: Có 02 con chung tên Phạm Nhật H, sinh ngày 16/6/2005; Phạm Quỳnh A, sinh ngày 05/7/2008.

Giao cháu H cho chị Ng, giao cháu Quỳnh A cho anh B trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng, tạm thời chị Ng, anh B không phải cấp dưỡng nuôi con.

Chị Ng, anh B được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên và mức cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí HNGĐ – ST: Chị Ng phải nộp 300.000đ án phí ly hôn, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành theo biên lai thu số 0006443 ngày 07/11/2022.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ