- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị T về việc yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và nuôi con.
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2023/HNGĐ-ST Ngày 03 tháng 7 năm 2023 “V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Thuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Y Míp Niê, ông Lê Đăng Huấn
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mậu Tuân - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Lê Trịnh Xuân Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 7 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 121/2023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2023, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 19/2023/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị T, sinh năm 1998 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn X, xã T, huyện N, tỉnh T.
- Bị đơn: Anh Hà Văn C, sinh năm 1988 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Đội, thôn E, xã Đ, huyện K, tỉnh Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 15/3/2023 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hoàng Thị T trình bày như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hà Văn C sau một thời gian tìm hiểu, được sự chấp thuận của hai bên gia đình nên anh chị tiến hành tổ chức đám cưới theo phong tục, tập quán của địa phương. Đến ngày 31/10/2016, anh chị tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện K, tỉnh Đ theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống thì giữa phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân, do vợ chồng không hòa hợp, thường xuyên cải vả nhau, không có tiếng nói chung nên tình cảm vợ chồng ngày càng nhạt phai. Nay xét thấy tình cảm đã hết, mục đích hôn nhân không đạt được nên tôi đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh Hà Văn C được ly hôn.
- Về con chung: Quá trình chung sống giữa chị và anh C thì có 01 chung là cháu Hà Thuý K, sinh ngày 26/11/2016. Trước đây, chị có nguyện vọng được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu K và yêu cầu anh C phải có nghĩa vụ cấp dưỡng mỗi tháng là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) để chị chăm sóc, nuôi dưỡng cháu K đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Nay chị T xét thấy một mình tôi có thể chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu K nên không yêu cầu anh Công phải cấp dưỡng nuôi con chung nữa.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Hà Văn Cô vắng mặt không có lý do, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần. Việc vắng mặt của bị đơn anh Hà Văn C là cố tình trốn tránh, không chịu hợp tác.
Tại biên bản xác minh ngày 01/6/2023, do chi Hội phụ nữ thôn E, xã Đ, huyện K cung cấp: Cuộc sống hôn nhân giữa chị T và anh C thì không hạnh phúc, bởi anh C không chăm lo đến hạnh phúc gia đình nên vợ chồng thường xẩy ra cãi vả, xúc phạm lẫn nhau. Do mâu thuẫn ngày càng nặng nề, không thể níu kéo được nên chị T và anh C đã ly thân. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn của anh chị thì chính quyền địa phương không nắm được. Bởi lẽ, khi xẩy ra mâu thuẫn, anh chị không nhờ chính quyền địa phương hòa giải mà gửi đơn khởi kiện ra Tòa án. Nay chị T làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề ly hôn và nuôi con chung với anh C thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K nhận định về các hoạt động tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, cho chị T được ly hôn với anh C. Về con chung: Giao cháu Hà Thuý K, sinh ngày 26/11/2016 cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Anh Hà Văn C không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật có tranh chấp và thụ lý vụ án:
+ Chị Hoàng Thị Thuý và anh Hà Văn C là vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Trong quá trình chung sống, chị T và anh C có 01 con chung. Hiện nay, do tình cảm vợ chồng không còn và có nhiều rạn nứt, không thể níu kéo được nên chị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con chung. Như vậy, quan hệ pháp luật ở đây là: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS).
+ Bị đơn anh Hà Văn C có nơi cư trú ở xã Đ, huyện K, tỉnh Đ. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk căn cứ vào các Điều 35; Điều 39; khoản 3 Điều 195 của BLTTDS để thụ lý vụ án.
Về thủ tục tố tụng: Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng anh C không có mặt nên các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án. Mặc dù, đã được Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh C đều vắng mặt. Việc vắng mặt của bị đơn anh C là cố tình trốn tránh, không chịu hợp tác. Vì vậy, Tòa án căn cứ Điều 227 của BLTTDS tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
Về nội dung quan hệ pháp luật có tranh chấp:
Về quan hệ hôn nhân: Trong quá trình chung sống, chị T và anh C phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cải vả nhau, không có tiến nói chung nên tình cảm giữa anh chị ngày càng xa cách, không thể níu kéo được. Nay xét thấy tình cảm giữa chị T và anh C không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không còn tồn tại. Vì vậy, chị T đã khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh C là có căn nên Hội đồng xét xử chấp nhận, cho chị T được ly hôn với anh C.
Về con chung: Chị T và anh C có 01 con chung. Sau khi ly hôn, chị T có nguyện vọng được chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cháu Hà Thuý K, sinh ngày 26/11/2016 đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi) và không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt. Việc vắng mặt của bị đơn anh Hà Văn C là cố tình trốn tránh, không chịu hợp tác. Xét thấy yêu cầu của chị T là có căn cứ nên Hội đồng xét xử giao cháu Hà Thuý K cho chị T chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).
Về cấp dưỡng: Chị T không không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị T và anh C không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
. Về án phí: Chị T tự nguyện nộp toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ các Điều 51; 65; 81; 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị T về việc yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và nuôi con.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hoàng Thị T được ly hôn với anh Hà Văn C.
2. Về con chung: Giao cháu Hà Thuý K, sinh ngày 26/11/2016 cho chị Hoàng Thị T chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).
Anh Hà Văn C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở.
3. Về án phí: Chị Hoàng Thị T phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Được khấu trừ trong số tiền 300.000 đồng đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện K theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0022220 ngày 22 tháng 3 năm 2023.
4. Về quyền và thời hạn kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đ; - VKSND huyện K; - Các đương sự ; - Lưu hồ sơ. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Phạm Minh Thuấn |