vanban.org

Bản án 31/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị Ngọc A.

Về quan hệ hôn nhân: chị Đinh Thị Ngọc A được ly hôn với anh Phan Văn C. Về con chung: Giao con chung là Phan Nhã U, sinh ngày 27/03/2018 cho chị Đinh Thị Ngọc A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Đinh Thị Ngọc A ly hôn với anh Phan Văn C."
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị Ngọc A.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN EAKAR

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 31/2023/HNGĐ-ST
Ngày 11/ 8/ 2023
“V/v: Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAKAR, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hoàng Long.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Thế Hằng và ông Lê Khắc Dũng.

- Thư ký phiên tòa: ông Phan Hoài Đông - Thư ký Tòa án nhân dân huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: bà Trần Thị Minh Nguyệt - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 8 năm 2023 tại hội trường Tòa án nhân dân huyện Ea Kar xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 125/2023/TLST-HNGĐ ngày 03/04/2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2023 ngày 19 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Đinh Thị Ngọc A, sinh năm 2000. Nơi cư trú: Thôn A, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Phan Văn C, sinh năm 1993. Nơi cư trú: Thôn A, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt lần thứ 2 không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Đinh Thị Ngọc Á trình bày: Chị Đinh Thị Ngọc A và anh Phan Văn C sau một thời gian tìm hiểu thì tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 15/02/2019. Trong quá trình chung sống do cả hai bất đồng quan điểm sống, anh C không chịu khó làm ăn chăm lo cho gia đình mà tham gia vào bài bạc, ảnh hưởng đến kinh tế gia đình nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vả mặc dù chị A đã nhiều lần góp ý nhưng anh C vẫn không chịu sửa đổi từ đó mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng thêm. Do không thể tiếp tục chung sống với nhau nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 08/2022 đến nay, ai biết bổn phận người đó. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy chị A yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh C.

Về con chung: Chị A và anh C có 01 con chung là Phan Nhã U, sinh ngày 27/03/2018, hiện nay con chung đang sống cùng chị A, do đó sau khi ly hôn chị A có nguyện vọng nuôi con chung đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu anh C cấp dưỡng tiền nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: chị A không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Bị đơn anh Phan Văn C đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không tham gia giải quyết vụ án. Vì vậy Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn và cũng không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Đinh Thị Ngọc A có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Phan Văn C vắng mặt lần thứ hai. Chị Đinh Thị Ngọc A vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho chị A được ly hôn với anh C. Chị A có nguyện vọng được quyền nuôi dưỡng con chung Phan Nhã U, sinh ngày 27/03/2018 cho đến khi đủ 18 tuổi, không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng tiền nuôi con đồng thời không yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung và nợ chung.

* Quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đều thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn anh Phan Văn C đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các quyết định tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do là vi phạm các quy định tại Điều 70, 72, và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS).

Về nội dung: Do yêu cầu của nguyên đơn có căn cứ, nên đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị A, xử cho chị Đinh Thị Ngọc A ly hôn với anh Phan Văn C. Giao cho chị A trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là Phan Nhã U, sinh ngày 27/03/2018 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi; chị A không yêu cầu cấp dưỡng nên không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Đinh Thị Ngọc A yêu cầu Tòa án giải quyết về việc ly hôn, nuôi con với bị đơn anh Phan Văn C cư trú tại xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk theo khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS).

- Về thủ tục mở phiên tòa vắng mặt các đương sự: Quá trình tố tụng, bị đơn anh Phan Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, nguyên đơn chị Đinh Thị Ngọc A có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 BLTTDS, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Phan Văn C và chị Đinh Thị Ngọc A tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 15/02/2019, đây là hôn nhân hợp pháp. Theo chị A trong cuộc sống hôn nhân vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do anh C không chịu khó làm ăn, ít chăm lo cho gia đình, và cả hai vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 8/2022 đến nay. Xét thấy, cuộc sống chung vợ chồng không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị A có nguyện vọng được ly hôn với anh C.

Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương xác định không rõ nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ chồng chị A, anh C nhưng chị A và anh C không còn chung sống với nhau, mà vợ chồng đi làm ăn mỗi người mỗi nơi.

Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị Ngọc A.

- Về con chung: Chị A và anh C có một con chung là Phan Nhã U, sinh ngày 27/03/2018. Qua lời khai của chị A và kết quả xác minh tại chính quyền địa phương thì hiện nay anh C đi làm ăn xa, vì vậy không đảm bảo điều kiện nuôi con và con chung vẫn đang sống cùng với chị A, chị A hiện đang sinh sống và làm việc tại địa phương, có thu nhập ổn định, có đủ điều kiện để nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Do đó, để đảm bảo quyền lợi ích về mọi mặt của con chung, căn cứ Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 giao con chung Phan Nhã U cho chị A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi là phù hợp với quy định của pháp luật.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự không yêu cầu cấp dưỡng nên HĐXX không xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí: Nguyên đơn chị Đinh Thị Ngọc A phải chịu 300.000đồng tiền án phí Hôn nhân gia đình theo quy định của pháp luật.

Xét quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị Ngọc A.

1. Về quan hệ hôn nhân: chị Đinh Thị Ngọc A được ly hôn với anh Phan Văn C.

2. Về con chung: Giao con chung là Phan Nhã U, sinh ngày 27/03/2018 cho chị Đinh Thị Ngọc A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.

Anh Phan Văn C được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Tuy nhiên, anh C không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc tranh nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền thay đổi việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Đinh Thị Ngọc A phải chịu 300.000đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng mà chị A đã nộp tạm ứng án phí, theo biên lai thu tiền số AA/2022/0000896 ngày 30/3/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện EaKar.

5. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Cỡ chữ