vanban.org

Bản án 31/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: tuyên xử cho bà Lê Thị Quỳnh G được ly hôn với ông Tạ Văn T.

Về con chung : Không xem xét giải quyết Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Quỳnh Giang - Tạ Văn Thể"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: tuyên xử cho bà Lê Thị Quỳnh G được ly hôn với ông Tạ Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 36 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỒNG PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH PHƯỚC
Bản án số: 31/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 08/5/2023
Về việc: "Ly hôn"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ- TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán, chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Nguyên Hoàng

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Viết Xứng

Ông Giang Công Chiến

-Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Trương Văn Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước: Ông Hà Văn Thái - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 237/2022/TLST – HN&GĐ ngày 24 tháng 11 năm 2022 về việc "Ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2023/QĐXXST-HN ngày 04 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 14/2023/QĐHPT ngày 20/4/2023, giữa các đương sự:

*Nguyên đơn: Lê Thị Quỳnh G, sinh năm 1992

Nơi cư trú: ấp X, xã H, huyện P, tỉnh Bình Phước.

(có đơn xin xét xử vắng mặt)

*Bị đơn: Tạ Văn T, sinh năm 1985

Nơi cư trú: ấp X, xã H, huyện P, tỉnh Bình Phước.

(vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

-Theo đơn khởi kiện đề ngày 08 tháng 11 năm 2022, nguyên đơn là bà Lê Thị Quỳnh G trình bày:

Về hôn nhân: Bà G và ông Tạ Văn T, sinh năm 1985 tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2014 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tân Hòa, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước. Quá trình chung sống thời gian đầu sống hạnh phúc. Tuy nhiên từ năm 2022 cho đến nay thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã. Nay xác định tình cảm đã hết nên bà G yêu cầu xin được ly hôn với ông Tạ Văn T.

Về con chung, về yêu cầu nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: quá trình chung sống có 01 con chung là cháu Tạ Anh C, sinh ngày 01/11/2014. Khi ly hôn bà G đồng ý giao cháu Cơ cho ông T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, bà G sẽ cấp dưỡng cho cháu theo quy định

Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra bà G không yêu cầu gì thêm.

Ngày 24/4/2023, bà Giang có đơn xin rút yêu cầu về việc nuôi con chung do con đang ở cùng ông T.

Bà Giang có đơn xin giải quyết vắng mặt.

- Ông Tạ Văn T vắng mặt suốt trong thời gian Tòa án giải quyết vụ án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn. Phân tích các tình tiết của vụ án, tài liệu, chứng cứ được kiểm tra tại phiên tòa, đối chiếu với quy định của pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Quỳnh G.

1.Về hôn nhân: Đề nghị tuyên xử cho bà Lê Thị Quỳnh G được ly hôn với ông Tạ Văn T

2.Về con chung: không xem xét giải quyết, do các bên không có yêu cầu.

3. Về tài sản chung: Đương sự không có yêu cầu nên không xem xét, giải quyết

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của các bên đương sự, kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN;

Về quan hệ pháp luật: bà Lê Thị Quỳnh G yêu cầu được ly hôn với ông Tạ Văn T, không yêu cầu giải quyết về con chung, không yêu cầu cấp dưỡng và tài sản chung. Vì vậy, đây là vụ án "Ly hôn" được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: do bị đơn là ông Tạ Văn T có nơi cư trú tại: ấp X, xã Hà, huyện P, tỉnh Bình Phước. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1, khoản 3 Điều 36 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn là Lê Thị Quỳnh G có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn là ông Tạ Văn T vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, cần áp dụng Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự để đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

Yêu cầu của đương sự:

[1] Về hôn nhân: bà Lê Thị Quỳnh G và ông Tạ Văn T kết hôn với nhau một cách tự nguyện vào năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện P, tỉnh Bình Phước. Đây là cuộc hôn nhân hợp pháp, tuân thủ đầy đủ về điều kiện và thủ tục kết hôn được quy định tại các Điều 8 và 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Trong thời gian chung sống thì giữa bà Lê Thị Quỳnh G và ông Tạ Văn T sống với nhau hạnh phúc đến tháng 4 năm 2022 thì giữa hai người thường xuyên xảy ra mâu thuẫn.

Nguyên nhân của việc phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, hai vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau, đánh nhau và hiện tại đã sống ly thân từ tháng 4/2022 cho đến nay. Bà Lê Thị Quỳnh G xác định tình cảm mà bà Giang dành cho ông Tạ Văn T đã thực sự hết và có yêu cầu được ly hôn với ông Tạ Văn T.

Quá trình giải quyết ông T vắng mặt không có lý do dù đã được Toà án tống đạt hợp lệ chứng tỏ ông T cũng không còn muốn hàn gắn hạnh phúc với bà Giang.

Xét thấy, cuộc hôn nhân giữa bà Lê Thị Quỳnh G và ông Tạ Văn T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà Lê Thị Quỳnh G yêu cầu ly hôn với ông Tạ Văn T là có căn cứ và được chấp nhận.

[2] Về con chung, cấp dưỡng nuôi con: quá trình chung sống có 01 con chung là cháu Tạ Anh C, sinh ngày 01/11/2014. Do con đang ở cùng ông T và bà Giang không yêu cầu giải quyết về con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về tài sản chung: Các bên đương sự không có yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

[4] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Các bên phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1, khoản 3 Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 8, 9, 51, 56 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

Áp dụng Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: tuyên xử cho bà Lê Thị Quỳnh G được ly hôn với ông Tạ Văn T.

2. Về con chung : Không xem xét giải quyết

3. Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Lê Thị Quỳnh G phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà Lê Thị Quỳnh G đã nộp theo biên lai thu tiền số 0019060 ngày 24 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.

5. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kề từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ