- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị D yêu cầu ly hôn anh N và yêu cầu được nuôi con chung"
- Tòa quyết gì? Điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 và khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÙ LAO DUNG TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2023/HNGĐ-ST Ngày: 23-6-2023 V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÙ LAO DUNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Phước Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Võ Thành Phước.
Bà Lê Thị Ánh Tuyết.
- Thư ký phiên tòa: Ông Tô Văn Thừa – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Vân - Kiểm sát viên.
Ông Nguyễn Việt Hùng – Công chức Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng được cử tham gia phiên tòa tại điểm cầu thành phần tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng hỗ trợ Thư ký phiên tòa tại điểm cầu trung tâm.
Ngày 23 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án thụ lý số: 69/2023/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 4 năm 2023 về việc ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2023 và Thông báo số: 91/TB-TA ngày 15 tháng 6 năm 2023 về việc xét xử trực tuyến vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Phiên tòa trực tuyến được diễn ra tại 02 điểm cầu gồm:
Điểm cầu trung tâm: Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng; địa chỉ ấp Phước Hòa B, thị trấn Cù Lao Dung, huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng. Thành phần tham gia: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, Kiểm sát viên được phân công giải quyết vụ án.
Điểm cầu thành phần: Tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; địa chỉ ấp Đ, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Thành phần tham gia: Các đương sự và công chức Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung.
Giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị D, sinh ngày 01/01/1984.
Nơi cư trú: Ấp L, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn N, sinh ngày 01/01/1979.
Nơi cư trú: Ấp L, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 09 tháng 12 năm 2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn chị Nguyễn Thị D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Vào ngày 20/12/2005 chị Nguyễn Thị D và anh Nguyễn Văn N tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A theo quy định của pháp luật. Sau khi chung sống, chị D và anh N chung sống hạnh phúc, đến tháng 8 năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng ý kiến nên cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Chị D và anh N sống ly thân tháng 9 năm 2022 cho đến nay.
Về con chung: Trong thời gian chung sống chị D và anh N có 02 người con chung tên Nguyễn Thúy T1, sinh ngày 19/9/2008 và Nguyễn Đức T2, sinh ngày 23/8/2015, hiện nay cháu Nguyễn Thúy T1 đã chết vào ngày 21/6/2015 (theo giấy chứng tử số 28, ngày 29/6/2015) còn cháu T2 đang sống chung với chị D.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Nay chị D yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị D yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn N.
- Về con chung: Chị D yêu cầu được nuôi con chung tên Nguyễn Đức T2, sinh ngày 23/8/2015 cho đến khi cháu T2 thành niên, chị D không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã ban hành thông báo thụ lý vụ án số 69/TB-TLVA ngày 14 tháng 4 năm 2023, tống đạt hợp lệ cho bị đơn anh Nguyễn Văn N nhưng anh N không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị D. Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ đối với anh N để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh N vắng mặt không có lý do, chị D có đơn yêu cầu Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và không tiến hành hòa giải nên Tòa án lập biên bản không tiến hành hòa giải được và cũng không có lời khai của anh N trong hồ sơ vụ án.
* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự, trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, riêng bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án, xét thấy nguyên đơn, bị đơn thường xuyên mâu thuẫn với nhau do bất đồng quan điểm sống, không còn sống chung với nhau thời gian dài, không hàn gắn được nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.
- Về con chung: Chị D và anh N có 02 người con chung tên Nguyễn Thúy T1, sinh ngày 19/9/2008 và Nguyễn Đức T2, sinh ngày 23/8/2015. Hiện nay cháu Nguyễn Thúy T1 đã chết vào ngày 21/6/2015, cháu T2 đang ở chung với chị D và cháu T2 có nguyện vọng được sống chung với chị D nên căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Nguyễn Đức T2, sinh ngày 23/8/2015 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên là phù hợp, chị D không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung nên không đặt ra xem xét. Căn cứ vào khoản 1 Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình, giành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung cho anh N.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị D xác định không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
- Về án phí: Chị D có đơn yêu cầu ly hôn nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử nghị án và tuyên án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về thủ tục thụ lý đơn khởi kiện của nguyên đơn và thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị D và anh Nguyễn Văn N cùng cư trú tại ấp L, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Chị D có đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn N và yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi con chung. Chị D đã nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung đã thụ lý đơn khởi kiện và thông báo cho chị D nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định của pháp luật và chị D đã thực hiện việc nộp tiền tạm ứng án phí đúng quy định. Như vậy, việc Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng thụ lý đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị D là đúng thẩm quyền và đúng theo trình tự thủ tục tố tụng theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 191 và Điều 195 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn anh Nguyễn Văn N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Anh N vắng mặt tại phiên tòa không có lý do nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Văn N.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị D, sinh ngày 01/01/1984 và anh Nguyễn Văn N, sinh ngày 01/01/1979 tự nguyện đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã A, huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 82 ngày 20 tháng 12 năm 2005 nên quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị D và anh Nguyễn Văn N là hợp pháp.
Xét lý do xin ly hôn của chị Nguyễn Thị D, Hội đồng xét xử xét thấy, sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng chị D và anh N hạnh phúc được một thời gian. Đến tháng 9 năm 2022, thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng ý kiến trong cuộc sống nên vợ chồng không còn hạnh phúc, chị D và anh N không còn sống chung từ tháng 9 năm 2022 cho đến nay. Chị D và anh N đã bỏ mặc nhau làm cho tình trạng hôn nhân của vợ chồng chị D và anh N trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị D.
Về con chung: Chị D và anh N có 02 người con chung tên Nguyễn Thúy T1, sinh ngày 19/9/2008 và Nguyễn Đức T2, sinh ngày 23/8/2015. Hiện nay cháu Nguyễn Thúy T1 đã chết vào ngày 21/6/2015 nên không đặt ra xem xét, cháu T2 đang ở chung với chị D và cháu T2 có nguyện vọng được sống chung với chị D nên căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Nguyễn Đức T2, sinh ngày 23/8/2015 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên là phù hợp, đúng quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị D không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; giành quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu T2 cho anh N mà không ai được cản trở. Anh N không được lạm dụng việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của chị D.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị D xác định không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên về nội dung giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị D là người có đơn xin ly hôn nên căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, chị D phải chịu án phí sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 và khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Khoản 1 Điều 56; khoản 1, 2 Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị D và anh Nguyễn Văn N ly hôn.
2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Đức T2, sinh ngày 23/8/2015 cho chị Nguyễn Thị D trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên. Anh Nguyễn Văn N có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Anh N không được lạm dụng việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của chị D.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
4. Về tài sản chung, nợ chung: Chị D xác định không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0005118 ngày 07 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, chị Nguyễn Thị D đã nộp xong án phí.
6. Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; riêng bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trình tự phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Cù Lao Dung; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cù Lao Dung; - TAND tỉnh Sóc Trăng (P.KTNV & THA); - UBND xã A, huyện C; - Lưu hồ sơ; - Lưu Tòa án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Đặng Phước Tuấn |