- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Thị T và Nguyễn Văn B"
- Tòa quyết gì? Chị Hoàng Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn B.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2023/HNGĐ-ST Ngày 09-6-2023 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Thị Nhạn.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Vĩnh;
Bà Trương Thị An.
- Thư ký phiên toà: Ông Lương Đăng Bùi - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 05/2023/TLST-HNGĐ, ngày 02 tháng 02 năm 2023 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 407/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 458/2023/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị T, trú tại: Thôn Đ, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt tại phiên tòa.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn B, trú tại: Thôn Đ, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 03 tháng 01 năm 2023 và các bản tự khai của nguyên đơn chị Hoàng Thị T trình bày:
Chị T xây dựng hạnh phúc với anh Nguyễn Văn B do tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 29 tháng 02 năm 2008 tại Ủy ban nhân dân xã Thái Sơn, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại thôn Đ, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm, cách sống không phù hợp nhau, vợ chồng không có sự thông cảm, chia sẻ với nhau nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Chị và anh B đã sống ly thân thời gian dài, không còn quan tâm đến nhau, tình cảm vợ chồng không còn. Vì vậy chị T đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn anh Nguyễn Văn B. Về con chung: Chị T và anh B có 02 con chung là Nguyễn Thị A, sinh ngày 25 tháng 12 năm 2008 và Nguyễn Thị Quỳnh D, sinh ngày 02 tháng 4 năm 2012. Ly hôn chị T đề nghị được nuôi 02 con và không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Văn B đã được tòa án triệu tập nhiều lần nhưng anh không đến tòa án để giải quyết việc chị Hoàng Thị T xin ly hôn anh nên không có lời khai của anh B.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng tại phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn chị Hoàng Thị T đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Bị đơn anh Nguyễn Văn B không tuân thủ các điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 19, 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử cho chị Hoàng Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn B. Về con chung: Giao con Nguyễn Thị A, sinh ngày 25 tháng 12 năm 2008 và Nguyễn Thị Quỳnh D, sinh ngày 02 tháng 4 năm 2012 cho chị Hoàng Thị T nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh B. Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu giải quyết, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về án phí: Chị Hoàng Thị T phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩmtra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết: Chị Hoàng Thị T có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn anh Nguyễn Văn B. Anh B có nơi cư trú tại thôn Đ, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thụ lý thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Lão, Hải Phòng.
Nguyên đơn chị Hoàng Thị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Nguyễn Văn B vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Hoàng Thị T và anh Nguyễn Văn B.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị T và anh Nguyễn Văn B xây dựng hạnh phúc với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 29 tháng 02 năm 2008 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng được xác định là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị chung sống tại thôn Đ, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng và có 02 con chung. Quá trình chung sống anh chị xảy ra mâu thuẫn thường xuyên cãi cọ, xúc phạm nhau nguyên nhân do bất đồng quan điểm, vợ chồng không có sự tin tưởng nhau về tình cảm nên không tìm được tiếng nói chung. Chị T đưa con về nhà bố mẹ ở cùng xã T và sống ly thân với anh B từ cuối năm 2022 đến nay, hai bên không còn quan tâm, liên lạc với nhau. Trong quá trình giải quyết anh B đã được triệu tập nhiều lần nhưng anh không đến Tòa án và không có ý kiến gì về việc chị T xin ly hôn anh. Do vậy anh B đã tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình được pháp luật bảo vệ. Xét thấy tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh B đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị T xin ly hôn anh B là có căn cứ phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Chị T và anh B có 02 con chung là Nguyễn Thị A, sinh ngày 25 tháng 12 năm 2008 và Nguyễn Thị Quỳnh D, sinh ngày 02 tháng 4 năm 2012. Ly hôn chị T đề nghị được nuôi 02 con và không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi các con, anh B không có ý kiến gì. Xét hiện nay chị T có công việc, có thu nhập, có nơi ở ổn định cùng với bố mẹ chị đảm bảo điều kiện nuôi các con, mặt khác cháu A và cháu D đều có ý kiến đề nghị được ở với chị T. Vì vậy Hội đồng xét xử giao 02 con là Nguyễn Thị A và Nguyễn Thị Quỳnh D cho chị T nuôi dưỡng. Chị T không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi các con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Chị Hoàng Thị T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Hoàng Thị T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 4 Điều 147; Điều 235 và Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các điều 19, 51, 53, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Xử:
1. Chị Hoàng Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn B.
2. Về con chung: Giao con Nguyễn Thị A, sinh ngày 25 tháng 12 năm 2008 và Nguyễn Thị Quỳnh D, sinh ngày 02 tháng 4 năm 2012 cho chị Hoàng Thị T nuôi dưỡng đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Hoàng Thị T không yêu cầu anh Nguyễn Văn B cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Hoàng Thị T phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Hoàng Thị T đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001451 ngày 02 tháng 02 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Lão, thành phố Hải Phòng. Chị Hoàng Thị T đã nộp đủ án phí.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo bản án: Chị Hoàng Thị T và anh Nguyễn Văn B có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP Hải Phòng; - VKSNDhuyện An Lão; - Chi cục THADS huyện An Lão; - Các đương sự; - UBND xã T; - Lưu: Hồ sơ; HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Nhạn |