vanban.org

Bản án 31/2023/HNGĐ-ST — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ngọc Á về việc “xác nhận cha cho con”.

Tuyên bố anh Nguyễn Hữu T, sinh năm 1988, địa chỉ: thôn ZZZ, xã Thượng Quận, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương là cha của cháu Nguyễn Hữu Bảo A, sinh ngày 07-7-2021 trú tại: thôn ZZZ, xã Thượng Quận, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ngọc Á được miễn án phí dân sự sơ thẩm, trả… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn T. Ngọc A - Nguyễn Hữu T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ngọc Á về việc “xác nhận cha cho con”.
  • Căn cứ chính? Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ KINH MÔN
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 20-6-2023
"V/v xác định cha cho con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KINH MÔN, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thu Hằng .

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Ngọc và ông Phạm Văn Biên.

- Thư ký phiên toà: Bà Đào Thị Thu Hoài - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kinh Môn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2023 tại hội trường xét xử tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 34/2023/TLST- HNGĐ ngày 07 tháng 2 năm 2023 về “Tranh chấp về xác định cha cho con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2023/QĐXX-ST ngày 22 th¸ng 5 n¨m 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh năm 1998 (vắng mặt, có

đơn xin vắng mặt tại phiên toà).

Nơi ĐKHKTT: Khu XXX, thị trấn Thanh Ba, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.

Nơi ở hiện nay: Thôn YYY, xã Thượng Quận, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu T, sinh năm 1988 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt tại phiên toà).

Địa chỉ: Thôn ZZZ, xã Thượng Quận, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.

-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Xuân H, sinh năm 1994; Địa chỉ: Khu ABC, xã Yên Kỳ, huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu có trong hồ sơ, chị Nguyễn Thị Ngọc Á trình bày: Chị và anh Nguyễn Xuân H đăng ký kết hôn vào ngày 05-01-2017 tại Ủy ban nhân dân xã Chính Công, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ. Vợ chồng chung sống hòa thuận được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Năm 2019 chị ly thân với anh H và chuyển về sinh sống với bố mẹ đẻ. Từ đó chị và anh H không còn liên lạc và cũng không có tin tức gì của nhau. Đầu năm 2020, chị Á gặp anh Nguyễn Hữu T. Hai anh chị tìm hiểu, yêu nhau và có quan hệ tình dục với nhau. Cuối năm 2020 chị Á có thai, ngày 07-07-2021 chị sinh cháu Nguyễn Hữu Bảo A. Đến đầu tháng 8- 2022 chị có đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ đề nghị giải quyết ly hôn với anh H. Trong thời gian làm thủ tục ly hôn, chị và anh H có gặp nhau và anh H đã ký vào đơn đồng ý ly hôn. Ngày 29-09-2022 Tòa án đã xét xử cho chị ly hôn với anh Nguyễn Xuân H. Bản án xác định anh chị không có con chung. Ngày 30-01-2023 chị và anh T đăng ký kết hôn tại UBND xã Thượng Quận và chung sống cho đến nay.

Nay chị xác định cháu Nguyễn Hữu Bảo A là con chung của chị và anh Nguyễn Hữu T nên chị đề nghị tòa án xác nhận anh Nguyễn Hữu T là cha của cháu Nguyễn Hữu Bảo A, sinh ngày 07-07-2021.

Bị đơn anh Nguyễn Hữu T trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị Ngọc Á quen biết nhau vào năm 2020 khi chị Á đang làm việc tại huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương. Hai anh chị tìm hiểu, yêu nhau và có quan hệ tình dục với nhau đến cuối năm 2020 chị Á có thai. Thời điểm này, anh chị chưa đăng ký kết hôn do chị Á chưa ly hôn với anh Nguyễn Xuân H. Ngày 07-07-2021 chị Á sinh cháu Nguyễn Hữu Bảo A. Từ khi quen biết cho đến khi chị Á sinh con chị Á không liên lạc và không có thông tin của anh H. Ngày 29-09-2022 Tòa án huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ đã xét xử cho chị Á ly hôn với anh H, xác định anh chị không có con chung. Anh xác nhận cháu Nguyễn Hữu Bảo A là con chung của anh và chị Á, nay chị yêu cầu xác định anh là cha của cháu Nguyễn Hữu Bảo A, sinh ngày 07-07-2021 anh nhất trí.

Xác minh với tại UBND xã Yên Kỳ, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ: Anh Nguyễn Xuân H, sinh năm 1994 có đăng ký hộ khẩu tại Khu 11, xã Yên Kỳ, huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ, hiện anh H đi làm xa không có mặt tại địa phương. Đề nghị tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích của các đương sự.

Giấy chứng sinh ngày 10-07-2021 thể hiện chị Nguyễn Thị Ngọc Á sinh ngày 27-08-1998; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú Thị trấn Thanh Ba, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ ; CMND : xxxxxxxxx. Đã sinh con vào lúc 8 giờ 50 phút ngày 07-07-2021 tại Trạm y tế xã Thượng Quận. Giới tính của con : nam dự định đặt tên con là Nguyễn Hữu Bảo A.

Bảng kết quả xét nghiệm huyết thống tại Trung tâm xét nghiệm IDNA ngày 16-03- 2022 kết luận Xác suất có mối liên hệ cha con giữa anh Nguyễn Hữu T và cháu Nguyễn Hữu Bảo A là 99,99%. Anh T là người cha sinh học của con Bảo A.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kinh Môn phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau: Căn cứ khoản 4 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 88, Điều 89, Điều 101, Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Ngọc Á xác nhận anh Nguyễn Hữu T là cha của cháu Bảo An sinh ngày 07-07-2021.

Về án phí sơ thẩm giải quyết vụ án dân sự: Chị Á được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[ 1]. Về tố tụng:

Chị Nguyễn Thị Ngọc Á khởi kiện xin xác nhận cha cho con đối với anh Nguyễn Hữu T có địa chỉ cư trú tại thôn ZZZ, xã Thượng Quận, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn theo quy định tại khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Chị Nguyễn Thị Ngọc Á, anh Nguyễn Hữu T và anh Nguyễn Xuân H đã được tòa án triệu tập hợp lệ và có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Anh H đã được triệu tập lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về nội dung: Xét về yêu cầu khởi kiện thì thấy tại Bảng kết quả xét nghiệm huyết thống tại Trung tâm xét nghiệm IDNA ngày 16-03- 2022 kết luận xác suất có mối liên hệ cha con giữa anh Nguyễn Hữu T và cháu Nguyễn Hữu Bảo An là 99,99%. Anh T là người cha sinh học của con Bảo A.

Lời khai của chị Nguyễn Thị Ngọc Á phù hợp với trình bày của anh Nguyễn Hữu T, phù hợp với Bản án xác nhận chị Á và anh H không có con chung phù hợp với kết luận giám định nên Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Á. Do vậy áp dụng khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Á xác định anh Nguyễn Hữu T là cha đẻ của cháu Nguyễn Hữu Bảo A, sinh ngày 07-07-2021 do chị Á sinh ra.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì vụ án này thuộc trường hợp miễn nộp tiền án phí. Vì vậy các đương sự trong vụ án không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho chị Á 300.000đ tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 88, Điều 89, Điều 101, Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình; Luật phí lệ phí; điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ngọc Á về việc “xác nhận cha cho con”.

Tuyên bố anh Nguyễn Hữu T, sinh năm 1988, địa chỉ: thôn ZZZ, xã Thượng Quận, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương là cha của cháu Nguyễn Hữu Bảo A, sinh ngày 07-7-2021 trú tại: thôn ZZZ, xã Thượng Quận, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ngọc Á được miễn án phí dân sự sơ thẩm, trả lại cho chị Nguyễn Thị Ngọc Á số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0002109 ngày 07-2-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Kinh Môn.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ