vanban.org

Bản án 31/2023/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Q.

Buộc bà Phạm Thị B và ông Trần Văn L có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Q số tiền hụi còn nợ là 150.000.000đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng) và tiền lãi là 26.518.500đồng (Hai mươi sáu triệu năm trăm mười tám nghìn năm trăm đồng). Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng góp hụi"
  • Tòa quyết gì? Chấp yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Q.
  • Căn cứ chính? Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2023/DS-ST
Ngày: 05-5-2023.
“V/v Tranh chấp hợp đồng
góp hụi”

NHAÂN DANH

NÖÔÙC COÄNG HOAØ XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM

TOAØ AÙN NHAÂN DAÂN HUYEÄN CHÂU THÀNH, TÆNH TRAØ VINH

Thaønh phaàn Hoäi ñoàng xeùt xöû sô thaåm goàm coù:

Thẩm Phán – Chủ Toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Liên.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Thi Thị Thanh Trúc.

2/ Ông Đỗ Văn Chúc.

Thư ký phiên toà: Ông Dương Khởi - Thư Ký Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh tham gia phên toà: Ông Trần Văn Thòn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 238/2022/TLST-DS ngày 31 tháng 10 năm 2022 về: “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2023/QĐXX-DS ngày 03 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1967 (Có mặt).

Địa chỉ: ấp Rạch G, xã Long H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Bị đơn: 1/ Bà Phạm Thị B, sinh năm 1974 (Có mặt).

2/ Ông Trần Văn L, sinh năm 1973 (Vắng mặt có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

Cùng địa chỉ: ấp R, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Q, tại khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay bà Nguyễn Thị Q là nguyên đơn có lời trình bày như sau:

Bà có làm đầu thảo hụi và bà Phạm Thị B là hụi viên có tham gia dây hụi cụ thể như sau:

Dây hụi khui vào ngày 26/12/2018âl dây hụi tháng, loại hụi 5.000.000đồng gồm 32 phần, mỗi tháng khui hụi một lần và tiền thảo cho mỗi lần khui hụi là 2.500.000đồng, trong dây hụi này vợ chồng bà B, ông L có tham gia một phần, đã đóng được một lần hụi sống đến ngày 26/01/2019âl bà B kêu số tiền 2.050.000đồng và được hốt hụi. Sau khi gom hụi bà đã giao cho bà B nhận số tiền là 91.000.000đồng đã trừ tiền thảo có giấy giao nhận hụi do bà B nhận hụi.

Trong dây hụi này bà B phải có nghĩa vụ đóng lại cho bà 30 lần hụi chết, nhưng bà B, ông L không có đóng hụi chết cho bà cho đến nay, dây hụi đã mãn vào ngày 26 tháng 7 năm 2021.

Tại phiên tòa hôm nay bà yêu cầu bà B và ông L có nghĩa vụ trả cho bà số tiền hụi chết mà bà đã đóng choàng là 150.000.000đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng) và phần tiền lãi bà yêu cầu tính lãi theo quy định của pháp luật từ ngày mãn hụi 26 tháng 7 năm 2021 cho đến ngày Tòa án xét xử vụ án.

Tại bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà bị đơn bà Phạm Thị B có lời trình bày như sau: Bà thừa nhận có chơi hụi do bà Nguyễn Thị Q làm đầu thảo dây hụi ngày 26/12/2018 loại hụi 5.000.000đồng, trong dây hụi này bà chỉ kí tên nhận hụi dùm mẹ của bà chứ bà không có nhận tiền, còn đóng hụi chết là do mẹ bà đóng cho bà Q hằng tháng. Đến khi dây hụi này còn 04 lần nữa mãn là mẹ bà chưa đóng cho bà Q. Nay bà Q cho rằng bà chưa đóng hụi chết và yêu cầu bà trả số tiền hụi chết là 150.000.000đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng) và yêu cầu tiền lãi thì bà không đồng ý.

Tại bản tự khai ông Trần Văn L có lời trình bày như sau: Ông là chồng của bà Phạm Thị B, ông thống nhất theo ý kiến trình bày của bà B, ông không có yêu cầu gì thêm.

Tại phiên tòa ông L vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt nên không có lời trình bày.

Tòa án đã tiến hành hòa giải vụ kiện nhiều lần nhưng phía bị đơn vắng mặt và Quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn và bị đơn có mặt tại phiên Toà vẫn giữ lời trình bày và yêu cầu như đã nêu trên.

Bị đơn không yêu cầu phản tố và các đương sự không bổ sung chứng cứ gì mới tại phiên Toà. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Lời phát biểu của Kiểm sát viên kết luận trình tự thủ tục thụ lý hồ sơ vụ án, xác định quan hệ pháp luật, xác định người tham gia tố tụng, thành phần hòa giải và thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm đều đúng qui định pháp luật. Các văn bản tố tụng từ khi nhận đơn khởi kiện cho đến khi ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử đều tống đạt đầy đủ cho các đương sự nhận và tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử đã tiến hành đầy đủ trình tự thủ tục đúng qui định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của đương sự tại các Điều 70, 71, 72 và Điều 73 Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo qui định pháp luật.

Về nội dung vụ án: Vị Kiểm sát viên Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 471 và Điều 468 của Bộ luật dân sự;

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39, Điều 147, Điều 227 và Điều 273 của Bộ Luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường

Căn cứ vào Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vị đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Q.

Buộc bà Phạm Thị B và ông Trần Văn L có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Q số tiền hụi còn nợ là 150.000.000đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng) và phần lãi suất theo quy định của pháp luật là 10%/năm từ ngày mãn hụi đến ngày xét xử sơ thẩm.

Ngoài ra Vị Kiểm sát viên còn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét buộc các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về quan hệ tranh chấp: Đây là vụ án“Tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc Thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Châu Thành.

Về thủ tục tố tụng: Ông Trần Văn L vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt là phù hợp theo quy định tại các Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như qua lời trình bày của các bên đương sự thì bà B thừa nhận vào giấy nhận hụi của dây hụi khui ngày 26/12/2018âl hụi tháng loại hụi 5.000.000đồng hốt vào ngày 26/01/2019, hụi do bà Q làm đầu thảo nhưng bà B lại cho rằng dây hụi này là do mẹ bà là bà Nguyễn Thị B tham gia chứ bà không có tham gia mà bà chỉ là người ký nhận hụi dùm mẹ bà, sau khi hốt hụi thì đã đóng hụi chết đầy đủ cho bà Q hiện nay không còn nợ. Qúa trình Tòa án xác minh các hụi viên cùng tham gia chơi hụi thì trong dây hụi này bà B là người trực tiếp tham gia chơi hụi. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay bà B không có chứng cứ nào để chứng minh cho việc bà B là người tham gia và đã đóng hụi xong cho bà Q từ đó Hội đồng xét xử xét thấy lời trình bày của bà B là không có cơ sở chấp nhận.

Đối với ông L mặc dù không có ký giấy nhận hụi, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án ông L có ý kiến là ông thống nhất theo ý kiến của bà B. Xét thấy bà B và ông L là vợ chồng, giao dịch hụi này trong thời kỳ hôn nhân nên có đủ cơ sở buộc ông L cùng bà B có nghĩa vụ trả cho bà Q số tiền hụi còn nợ.

Xét về yêu cầu tính lãi: Hội đồng xét xử xét thấy việc bà B và ông L còn nợ tiền hụi của bà Q thì phải có nghĩa vụ trả tiền lãi cho bà Q là phù hợp theo quy định của pháp luật.

Lãi suất được tính theo quy định của pháp luật là 10%/năm, tiền lãi được tính như sau: Số tiền hụi là 150.000.000đồng lãi suất tính từ ngày mãn hụi 26/7/2021 đến ngày xét xử 05/5/2023 là 21 tháng 09 ngày x 0,83%/tháng (Tức 10%/năm) là 26.518.500đồng (Hai mươi sáu triệu năm trăm mười tám nghìn năm trăm đồng)

Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của bà Q là có căn cứ chấp nhận được Hội đồng xét xử chấp nhận. Buộc bà B, ông L có nghĩa vụ trả cho bà Q số tiền hụi còn nợ là 150.00.000đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng) và tiền lãi là 26.518.500đồng (Hai mươi sáu triệu năm trăm mười tám nghìn năm trăm đồng)

Xét ý kiến về việc giải quyết vụ án của Vị kiểm sát viên là có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu được chấp nhận nên bà Q không phải chịu án phí. Bà B và ông L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 280, 288 và khoản 2 Điều 468, 471 của Bộ luật dân sự;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26, Điểm a khoản 1 điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 92, 147, 227, 228, 266, 271 và 273 của Bộ Luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 27 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị định 19/2019/NĐ - CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường;

Căn cứ Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Q.

Buộc bà Phạm Thị B và ông Trần Văn L có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Q số tiền hụi còn nợ là 150.000.000đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng) và tiền lãi là 26.518.500đồng (Hai mươi sáu triệu năm trăm mười tám nghìn năm trăm đồng).

Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp Cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Phạm Thị B và ông Trần Văn L có nghĩa vụ nộp số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 8.826.000đồng (Tám triệu tám trăm hai mươi sáu nghìn đồng).

- Bà Nguyễn Thị Q không phải chịu án phí và bà Q được nhận lại số tiền tạm ứng án phí mà bà đã nộp là 3.750.000đồng (Ba triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0014063 cùng ngày 31 tháng 10 năm 2022 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh thu.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo qui định tại Điều 174 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ