vanban.org

Bản án 31/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Quốc Tế VN.

Buộc bà Lê Thị Ngọc H phải trả cho Ngân hàng TMCP Quốc Tế VN 859.435.807(tám trăm năm mươi chín triệu, bốn trăm ba mươi lăm nghin, tám trăm lẽ bảy) đồng. Trong đó có 731.250.000 đồng tiền vốn. Kể từ ngày 08/9/2023, bà Hiếu còn phải chịu lãi trên phần vốn gốc, theo lãi suất Hợp đồng tín dụng số 75797… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Bà Hiếu vay tiên Ngân hàng Quốc Tế thế chấp xe ô tô nhưng không trả"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Quốc Tế VN.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Số: 31/2023/DS-ST
Ngày: 07 - 9 - 2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TT – TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Huệ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hồ Văn Dũng;

2. Ông Chau Khon Sốc

- Thư ký phiên tòa: Ông Chau Chanh Đô Ra - là Thư ký Tòa án nhân dân huyện TT.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TT tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thái Hòa – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TT, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 170/2023/TLST-DS, ngày 25 tháng 7 năm 2023 về: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2023/QĐXX- DS ngày 21 tháng 8 năm 2023 giữa:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Quốc Tế VN; địa chỉ: Tầng 1 (Tầng trệt) và Tầng 2, Tòa nhà SalingToWer – 111 Pastuer, phường BN, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc V – Chức vụ: Tổng Giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị Thu H – Giám đốc Trung tâm Quản lý nợ Ngân hàng bán lẽ 1- khối Ngân hàng bán lẽ VIB, theo giấy ủy quyền số 006325.23 ngày 27/01/2023 của Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP Quốc Tế VN; địa chỉ: Tầng 6, Tòa nhà Paxxky số 26, UVK, phường 25, quận BT, thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo ủy quyền cho bà Trần Thị Thu H là các ông bà: Phan Anh Th, Trần Văn D, Danh Hoài H – cùng cán bộ Ngân hàng, theo văn bản ủy quyền số 108486.23 ngày 31/7/2023.

Bị đơn: Bà Lê Thị Ngọc H, sinh năm: 1988; địa chỉ: Tổ 07, ấp VL, xã VG, huyện TT, tỉnh An Giang.

(Tại phiên tòa, có mặt ông D. Những người còn lại vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 07/3/2023 với các tài liệu kèm theo cũng như quá trình tố tụng tại tòa, ông Trần Văn D – đại diện theo ủy quyền cho Ngân hàng TMCP Quốc Tế VN trình bày:

Vào ngày 02/3/2021, bà Lê Thị Ngọc H có ký hợp đồng tín dụng số 7579730.21 vay của Ngân hang TMCP Quốc Tế VN (VIB) (gọi tắt là Ngân hàng Quốc Tế) số tiền 900.000.000 đồng; Mục đích vay: Mua xe ô tô nhãn hiện HYUNDAI SANTAFE; thời hạn vay: 96 tháng; lãi suất vay 8.7% /năm; phương thức trả vào ngày 25 hàng tháng số tiền 9.375.000 đồng. Số tiền vay bà H được giải ngân vào ngày 02/3/2021 theo đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 7579730.21.

Đảm bảo cho hợp đồng vay thì bà H có ký hợp đồng thế chấp xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Santafe số 7499743.21 ngày 02/3/2021, theo giấy chứng nhận ô tô 67A– 168.22 mang tên Lê Thị Ngọc H.

Quá trình thực hiện, tính đến ngày 05/10/2022 bà H thanh toán được 168.750.000 đồng vốn gốc, hiện còn nợ lại Ngân hàng Quốc Tế (VIB) tính đến ngày (08/8/2023) là 843.923.290 đồng, trong đó: Nợ gốc: 731.250.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 41.451.543 đồng; lãi quá hạn: 71.221.747 đồng.

Nhiều lần đòi nhưng bà H hẹn mà không trả. Nay Ngân hàng Quốc Tế yêu cầu bà H phải thanh toán ngay số tiền trên cùng với lãi suất phát sinh đến khi xét xử.

Bị đơn: Bà Lê Thị Ngọc H đã được Tòa án thông báo hợp lệ để tham gia phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng bà vắng mặt không lý do.

Tại biên bản lời khai ngày 21/8/2023 bà thừa nhận vào ngày 02/3/2021, có ký hợp đồng tin dụng số 7579730.21 vay của Ngân hàng Quốc Tế 900.000.000 đồng, với mục đích vay, thời hạn vay, lãi suất vay và thời gian giải ngân đúng như đại diện Ngân hàng Quốc Tế trình bày.

Bà cũng thừa nhận đảm bảo cho hợp đồng vay thì bà có ký hợp đồng thế chấp số 7499743.21 ngày 02/3/2021, với tài sản thế chấp là xe ô tô nhãn hiện Hyundai Santafe, theo giấy chứng nhận ô tô 67A– 168.22 mang tên Lê Thị Ngọc H.

Quá trình thực hiện, tính đến ngày 05/10/2022 bà thanh toán được 168.750.000 đồng vốn gốc, hiện còn nợ lại tính đến ngày (08/8/2023) là 843.923.290 đồng, trong đó: Nợ gốc: 731.250.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 41.451.543 đồng; lãi quá hạn: 71.221.747 đồng, do bà bán xe cho người khác không thanh toán tiền, nên bà không tiền trả cho Ngân hàng Quốc Tế. Nay khi nào cơ quan Công an thu hồi được xe bà sẽ trả nợ cho Ngân hàng.

Quan điểm của Kiểm sát viên.

Về tố tụng: Tòa án thụ lý giải quyết đúng theo trình tự thủ tục, xác định đúng quan hệ tranh chấp và thẩm quyền xét xử. Trong quá trình tiến hành tố tụng, Thẩm phán cũng như Hội đồng xét xử (HĐXX) đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, nguyên đơn trong vụ án cũng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ. Bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nên HĐXX xét xử vắng mặt theo quy định.

Về nội dung: Ngân hàng Quốc tế kiện bà H phải thanh toán nợ trên cơ sở hợp đồng tín dụng số 7579730.21 ngày 02/3/2021 và lãi suất tính đến ngày 07/9/2023 bằng 859.435.807 đồng là có cơ sở, đề nghị HĐXX xem xét chấp nhận. Đối với tài sản thế chấp là chiêc xe ô tô hiệu Hyundai Santafe biên số 67A– 168.22. Ngân hàng Quốc Tế không yêu cầu nên không đề cặp giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, quan điểm của Kiểm sát viên. HĐXX nhận định:

. Về thủ tục: Bà Lê Thị Ngọc H đã được triệu tập hợp lệ để tham dự phiên tòa, nhưng bà có đơn đề nghị xét xử, do đó HĐXX tiến hành xét xử trong trường hợp đương sự vắng mặt, theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về thời hiệu – thẩm quyền: Bà H ký kết vay tiền của Ngân hàng Quốc tế vào 02/3/2021, thực hiện đến ngày 05/10/2022 thì ngưng, mặc dù Ngân hàng nhắc nhỡ nhiều lần nhưng bà H không trả, nên ngày 07/3/2023 Ngân hàng Quốc Tế khởi kiện là còn trong thời hiệu theo quy định tại Điều 429 Bộ luật Dân sự; bà H có nơi trú tại huyện TT, nên Tòa án nhân dân huyện TT thụ lý giải quyết đúng thẩm quyền, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về nội dung: Hợp đồng tín dụng giữa các bên có lập thành văn bản, trên nguyên tắc tự nguyện thỏa thuận phù hợp pháp luật, nên được xem là hợp đồng hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

Quá trình thực hiện bà H trả vốn đến ngày 05/10/2022 được 168.750.000 đồng vốn gốc thì ngưng, chứng tỏ vi phạm khoản 1.4.6 và khoản 4.3.1 Điều khoản và Điều kiện cấp tín dụng Hợp đồng tín dụng số 7579730.21 ngày 02/3/2021, nên Ngân hàng Quốc Tế khởi kiện là phù hợp với Điều 5 Điều khoản chung của Hợp đồng tín dụng mà hai bên ký kết.

Theo bảng chiết tính về lãi suất mà đại diện Ngân hàng Quốc Tế cung cấp tại phiên tòa thì đến nay (07/9/2023) bà H còn nợ Ngân hàng Quốc Tế là 859.435.807 đồng. Trong đó vốn 731.250.000 đồng, lãi trong hạn 51.741.132 đồng, lãi quá hạn 76.444.675đồng. Xét lãi suất Ngân hàng Quốc Tế tính là phù hợp với hợp đồng tín dụng mà hai bên tham gia ký kết, nên HĐXX chấp nhận.

Bà H thừa nhận nợ, nhưng cho rằng do bà bán xe cho người khác không thanh toán tiền, nên không tiền trả cho Ngân hàng Quốc Tế. Xét thấy, ô tô hiệu Hyundai Santafe biên số 67A– 168.22 là tài sản thế chấp cho Ngân hàng Quốc Tế, khi chưa được giải chấp nếu có bán cho người khác mà không được đồng ý của Ngân hàng thì hợp đồng mua bán đó không được chấp nhận. Tuy nhiên, tại phiên tòa đại diện Ngân hàng Quốc Tế không yêu cầu gì đối với tài sản thế chấp, nên HĐXX không đề cặp giải quyết.

Về án phí: Do toàn bộ yêu cầu của Ngân hàng Quốc Tế được chấp nhận, nên Ngân hàng Quốc Tế không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn lại tiền tạm ứng án phí mà Ngân hàng Quốc Tế đã nộp. Đối với bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo các Điều 144, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự 2015; các Điều 144, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Quốc Tế VN.

Buộc bà Lê Thị Ngọc H phải trả cho Ngân hàng TMCP Quốc Tế VN 859.435.807(tám trăm năm mươi chín triệu, bốn trăm ba mươi lăm nghin, tám trăm lẽ bảy) đồng. Trong đó có 731.250.000 đồng tiền vốn.

Kể từ ngày 08/9/2023, bà Hiếu còn phải chịu lãi trên phần vốn gốc, theo lãi suất Hợp đồng tín dụng số 7579730.21 ngày 02/3/2021 giữa Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam với bà Lê Thị Ngọc Hiếu, tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

Về án phí: Bà Lê Thị Ngọc H phải chịu 37.783.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Chi cục Thi hành án dân sự huyện TT hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Quốc Tế VN - Chi nhánh An Giang 17.639.098 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0010183 ngày 10/7/2023.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (07/9/2023), đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

(Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự).

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ