- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Châu T "Cướp tài sản" - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Châu T phạm tội “Cướp tài sản”. Căn cứ khoản 1 Điều 168, điểm e, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 32; Điều 65; của Bộ luật hình sự; Các Điều 299, 326, 327 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2022/HS-ST Ngày: 18 - 7 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triến.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thị Hạnh.
Ông Dương Tấn Thành.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lữ Minh Vũ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Bích Trăm - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện Đức Huệ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 24/2022/TLST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2022/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 06 năm 2022 đối với bị cáo:
Phạm Châu T, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1980, tại: Long An; Nơi cư trú: Ấp 5, xã M, huyện Đ, tỉnh L; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T1 và và Nguyễn Thị H (chết); sống như vợ chồng với Nguyễn Thị Hoàng Y, sinh năm 1984 và không có con chung; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 25/02/2022 đến nay. (Có mặt)
- Bị hại: Ông Lương Phước Đ - Sinh năm 1991 - Địa chỉ: Ấp 6, xã Đ, huyện Đ, tỉnh L. (Vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị Hoàng Y - Sinh năm 1984 - Địa chỉ: Số 18 lô I đường L, phường 10, quận 3, Thành phố H. Tạm trú: Ấp P, xã P, huyện C, Thành phố H. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào lúc 16 giờ 30 phút, ngày 01/01/2022, Phạm Châu T điều khiển xe mô nhãn hiệu Yamaha, Exciter, màu trắng-đỏ-đen, biển kiểm soát 62S1-258.80 chở theo phía sau là Nguyễn Thị Hoàng Y lưu thông từ ngã ba ông Đường, thuộc xã M, huyện Đ hướng về thị trấn Đ, huyện Đ. Khi cả hai đang đi đến khu vực gần đường rẽ vào Lò gạch Bảo Châu (ấp 5, xã M) thì có Lương Phước Đ điều khiển xe mô tô loại wave, biển số 51M3-3746 lưu thông cùng chiều. Khi Đ đi ngang có nẹt bô và lạng lách tạt ngang đầu xe của T. Thấy vậy, T nói “Chạy xe kiểu đó dễ gây tai nạn”, Đ trả lời “Đường ông ông chạy, đường tôi tôi chạy chứ mắc gì ông” rồi chạy đi. Nghe thấy vậy, T bực tức nên đuổi theo xe mô tô của Đ rồi dùng chân phải đạp vào thân xe mô tô của Đ làm cả hai xe ngã ra đường. Lúc này, cả hai tiến đến đánh nhau. Trong lúc xô xác, Đ đánh T rách mí mắt phải, chảy máu nên dừng lại. Sau đó, T nhặt nón bảo hiểm (không xác định được của ai) để tấn công lại nhưng Đ bỏ chạy vào nhà dân. Sau khi thấy Đ bỏ chạy và để lại xe mô tô thì T bỏ nón bảo hiểm lại hiện trường, nhặt điện thoại di động Nokia màu đen rơi gần đó bỏ vào túi và điều khiển xe của Đ về cất giữ nhà trọ của mình tại ấp P, xã P, huyện C, Thành phố H. Riêng xe của T thì bỏ lại cho Y điều khiển về nhà trọ. Sau khi xảy ra vụ việc, bà Y có khuyên T mang trả xe và trình báo Công an nhưng do bực tức nên T không thực hiện. Sau khi mang xe về nhà trọ, T có mở cốp xe kiểm tra, phát hiện bên trong cốp có 01 ví da chứa giấy tờ tùy thân nên để lại trong cốp rồi đi ngủ. Đến 07 giờ 30 phút, ngày 02/01/2022, T nhận được cuộc gọi đến số máy của Đ thì T nói “muốn nhận lại điện thoại thì đến Cổng Vàng - Khu công nghiệp huyện Đức Hòa để lấy”. Nghe điện thoại xong, T bỏ xe tại nhà trọ và đi làm. Sau đó, thì bị lực lượng Công an mời làm việc. Trong quá trình điều tra, bị cáo T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Bị cáo T khai trong lúc xảy ra vụ việc, bản thân có sử dụng bia rượu, không hiểu biết phát luật nên phạm tội. Mục đích chiếm giữ tài sản là để Đ liên hệ thì đánh trả và yêu cầu Đ bồi thường tiền thuốc. Trong vụ việc trên, T hoàn toàn không có bàn bạc hay nói cho Y biết ý định của mình và sau khi xảy ra vụ việc. Tang vật vụ án:
- 01 (một) mũ bảo hiểm có ký hiệu MIKKO HEIMET, màu xám.
- 01 (một) ví da màu đen, bên trong có 01 giấy đăng ký xe 51M3-3746, mang tên Nguyễn Minh Mãi; 01 giấy phép lái xe, 01 Chứng minh nhân dân, 01 căn cước công dân và 01 thẻ bảo hiểm y tế, đều mang tên Lương Phát Đ và 01 (một) thẻ ngân hàng Agribank mang tên PHAM THI HONG NGUYEN.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, loại TA-1174, màu đen, gắn sim số 0933 644 055; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HAVICO, màu xanh, biển số 51M3-3746, số máy H-601619, số khung CM-601619.
- 01 (một) mũ bảo hiểm có ký hiệu ila iam, màu xanh và 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu trắng-đỏ-đen, biển số 62S1-258.80, số máy G3D4E100491, số khung:1010KY233912.
Tại bản kết luận số 02/KL-TCKH ngày 19/01/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đức Huệ xác định:
“Qua khảo sát giá thị trường tại thời điểm định giá, giá trị thực tế còn lại của tài sản được hội đồng thống nhất như sau:
1. Xe mô tô 02 bánh: 2.500.000 đồng.
2. Điện thoại di động: 300.000 đồng.
Tổng cộng 2.800.000 đồng.”
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HAVICO, màu xanh, biển số 51M3-3746, số máy H-601619, số khung CM-601619; 01 (một) mũ bảo hiểm có ký hiệu MIKKO HEIMET, màu xám; 01 (một) ví da màu đen, bên trong có 01 giấy đăng ký xe 51M3-3746, mang tên Nguyễn Minh Mãi; 01 giấy phép lái xe, 01 Chứng minh nhân dân, 01 căn cước công dân và 01 thẻ bảo hiểm y tế, đều mang tên Lương Phát Đ, 01 (một) thẻ ngân hàng Agribank mang tên PHAM THI HONG NGUYEN; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, loại TA-1174, màu đen, gắn sim số 0933 644 055. Qua điều tra xác định đây là các tài sản thuộc quyền sở hữu và quản lý của ông Lương Phát Đ.
Đối với xe mô tô 51M3-3746, ông Đ trình bày: Xe mô tô nói trên được mua tại tiệm cầm đồ Đức Tâm Phú (xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An) vào ngày 07/11/2011 với giá 4.800.000 đồng và sử dụng đến nay, chưa làm thủ tục sang tên. Đến ngày 01/01/2022, thì xảy ra vụ việc nên đã đến cơ quan Công an trình báo vụ việc.
Xét thấy không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết tiếp theo của vụ án, Cơ quan điều tra Công an huyện Đức Huệ đã ra quyết định xử lý vật chứng số 04 ngày 24/01/2022 trả lại các tài sản trên cho chủ sở hữu. ông Đ đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.
Đối với 01 (một) mũ bảo hiểm có ký hiệu ila iam, màu xanh và 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu trắng-đỏ-đen, biển số 62S1-258.80, số máy G3D4E100491, số khung:1010KY233912. Qua điều tra xác định tài sản trên thuộc sở hữu của bị cáo Phạm Châu T. Xét thấy, không liên quan và không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết tiếp theo của vụ án. Cơ quan điều tra Công an huyện Đức Huệ đã ra quyết định xử lý vật chứng số 13 ngày 11/5/2022 trả lại tài sản cho bị cáo. Cáo trạng số: 24/CT-VKS- ĐH ngày 03 tháng 6 năm 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ đã truy tố bị cáo Phạm Châu T về “Tội cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ vẫn giữ nguyên cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích tính chất của hành vi và hậu quả xảy ra, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Châu T phạm tội “Cướp tài sản”. Căn cứ: khoản 1 Điều 168, điểm e, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 32, Điều 65 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Châu T 03 năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 năm. Về các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Phần Cơ quan điều tra đã xử lý xong không có yêu câu xem xét lại nên không xem xét. Về trách nhiệm dân sự tại phiên tòa:
- Bị hại : Ông Lương Phước Đ vắng mặt tại phiên tòa và trong lời khai trình bày: Ông đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu thường, yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Hoàng Y tại phiên tòa và trong lời khai trình bày: Bà có thấy bị cáo và bị hại đánh nhau, bị cáo bị thương tích, bà không yêu cầu gì. Nói lời sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án: Bị cáo biết việc làm là vi phạm pháp luật, ăn năn hối cải, hứa không tái phạm, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì hoàn cảnh gia đình khó khăn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Các quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can của cơ quan cảnh sát điều tra, quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can và cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Hành vi tố tụng của Điều tra viên, kiểm sát viên đều thực hiện đúng và hợp pháp. Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát thu thập là hợp pháp.
Vào lúc 16 giờ 30 phút, ngày 01/01/2022, tại khu vực gần lò gạch Bảo Châu thuộc ấp 5, xã M, huyện Đ, tỉnh L, Phạm Châu T trong khi tham gia giao thông xảy ra mâu thuẫn dẫn đến xô xác với ông Lương Phước Đ. Trong lúc xô xác, T bị ông Đ làm bị thương tại vùng mí mắt trái. Do bực tức nên T dùng nón bảo hiểm nhằm tấn công lại ông Đ, do ông Đ hoảng sợ bỏ chạy và bỏ lại hiện trường 01 xe mô tô và 01 điện thoại di động. Sau đó, T đã lấy 01 xe mô tô, nhãn hiệu HAVICO, màu xanh, biển số 51M3-3746 và 01 điện thoại Nokia màu đen đem về nhà trọ của T tại ấp P, xã P, huyện C, Thành phố H để cất giữ. Đến ngày 02/01/2022 thì bị Công an mời làm việc. Tài sản mà bị cáo chiếm đoạt theo định giá có giá trị là 2.800.000 đồng.
Tại phiên toà, bị cáo Phạm Châu T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các lời khai người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm lúc 18 giờ 40 phút, ngày 01/01/2022 của Công an xã Mỹ Thạnh Bắc, biên bản tạm giữ người trong trường hợp khẩn cấp lúc 14 giờ 30 phút, ngày 02/01/2022, biên bản khám nghiệm hiện trường lúc 09 giờ 00 phút, ngày 02/01/2022, sơ đồ hiện trường, bản ánh hiện trường (08 ảnh) do Công an huyện Đức Huệ lập, Kết luận định giá tài sản số 02/KL-TCKH ngày 19/01/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đức Huệ, cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Trên cơ sở đó, đã có đủ bằng chứng để kết luận rằng bị cáo Phạm Châu T phạm vào tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự. Như vậy, cáo trạng số: 24/CT-VKS-ĐH ngày 03 tháng 6 năm 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ đã truy tố bị cáo Phạm Châu T với tội danh và điều luật nêu trên là có cơ sở đúng theo quy định của pháp luật.
Hành vi của bị cáo Phạm Châu T là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là một công dân có đầy đủ lý trí để nhận thức được rằng tài sản hợp pháp của mọi tổ chức và cá nhân được pháp luật bảo vệ, nếu người nào cố tình chiếm đoạt sẽ bị pháp luật xử lý nhưng bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Mục đích của bị cáo là chiếm đoạt tài sản của bị hại để bị hại tìm đến bị cáo để cho bị cáo đánh trả lại. Hành vi này của bị cáo phải được xử lý nghiêm. Bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, ổn định. Xét thấy, không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà dưới sự giám sát giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa.
Xét thấy, bị cáo Phạm Châu T trong quá trình truy tố và xét xử thật thà khai báo, xuất phát từ một phần lỗi của bị hại gây thương tích cho bị cáo, bị cáo chưa tiền án, tiền sự, không có việc làm ổn định, là lao động chính trong gia đình, có cha ruột (Phạm Văn T2) là người có công cách mạng được hưởng chính sách thương binh, có bác ruột (ông Nguyễn Văn T3) là Liệt sỹ, người bị hại có đơn xin bãi nại, yêu cầu không xử lý đối với bị cáo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm e, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, do đó khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. [6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo Phạm Châu T là có cơ sở theo quy định pháp luật. [7] Về trách nhiệm dân sự: Ông Lương Phước Đ và bà Nguyễn Thị Hoàng Y không yêu cầu bị cáo bồi thường. Do không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, nếu sau này phát sinh yêu cầu thì tách ra giải quyết bằng một vụ án khác. [8] Về các biện pháp tư pháp: Cơ quan cảnh sát điều tra đã xử lý xong không có yêu cầu xem xét lại nên không xem xét. [9] Bị cáo Phạm Châu T phải chịu án phí hình sự theo quy định pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Phạm Châu T phạm tội “Cướp tài sản”. Căn cứ khoản 1 Điều 168, điểm e, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 32; Điều 65; của Bộ luật hình sự; Các Điều 299, 326, 327 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Phạm Châu T 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án (ngày 18/7/2022). Giao bị cáo Phạm Châu T về Ủy ban nhân dân xã Mỹ Thạnh Bắc, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An theo dõi, giám sát, giáo dục trong thời gian thi hành án treo. Trong thời gian thi hành án treo bị cáo Phạm Châu T có 02 lần vi phạm nghĩa vụ của án treo thì chuyển hình phạt tù cho hưởng án treo sang hình phạt tù có thời hạn. Trường hợp bị cáo Phạm Châu T thay đổi nơi cư trú thì giải quyết theo Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phạm Châu T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ sung vào ngân sách Nhà nước.
- Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ có liên quan có quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án (ngày 18/7/2022). Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc bản án được tống đạt hợp lệ. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - VKSND tỉnh Long An; - VKSND huyện Đức Huệ; - Công an huyện Đức Huệ; - CC.THADS huyện Đức Huệ; - Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Hồ sơ THAHS; - Lưu hồ sơ, án văn; | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Triến |