vanban.org

Bản án 31/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình Tuyên án 25/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Thu Ha phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG HƯNG
TỈNH THÁI BÌNH
Bản án số: 31/2022/HS-ST
Ngày: 25/5/2022

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH

THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Tiến Hưng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Vĩnh

2. Ông Nguyễn Hữu Hiển

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng.

Đại diện VKSND huyện Đông Hưng tham gia phiên toà: Ông Vũ Minh Hải - Kiểm sát viên

Ngày 25 tháng 5 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2022 TLST-HS ngày 20/4/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2022/QĐXXST- HS ngày 12/5/2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày: 04/7/1997. Tại: xã Phương Công, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.

Nơi cư trú: thôn T, xã L, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình; (Số CCCD: 034197010973 do Cục Cảnh sát quản lý Hnh chính về trật tự xã hội cấp ngày 14/9/2021)

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Quang H sinh năm: 1963 và bà: Trần Thị V, sinh năm 1968; Có chồng: Bùi Văn Th, sinh năm: 1996 và có 01 con sinh 08/6/2021.

Tiền sự: Không; Tiền án: Không;

Nhân thân:

Học hết lớp 12/12, sau đó ở nhà H lao động tự do. Tháng 10/2019, lấy chồng sau đó chuyển khẩu về sinh sống tại thôn T, xã L, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.

Bị cáo hiện đang chấp Hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

+ Bị hại:

Chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1992

Trú tại: thôn Ng, xã L, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình

(Vắng mặt tại phiên tòa không có lý do )

Người làm chứng :

Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1962, trú tại thôn V, xã L, huyện Đông Hưng.

(Vắng mặt tại phiên tòa không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 45 phút ngày 07/02/2022, Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày 04 tháng 7 năm 1997, trú tại thôn T, xã L, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình điều khiển xe máy điện sơn màu đen, nhãn hiệu DK BIKE, biển kiểm soát 17MĐ3-125.88 đi từ nhà H đến cửa Hàng thuốc Thu Th (Do chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1992 là chủ cửa Hàng) thuộc địa phận thôn Ng, xã L, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình với mục đích mua thuốc ho cho con. Khi đến hiệu thuốc Thu Th, Nguyễn Thị Thu H dựng xe máy điện nhãn hiệu DK BIKE, biển kiểm soát 17MĐ3-125.88 trước cửa Hng thuốc Thu Th và đứng ở cửa hiệu thuốc gọi “Chị ơi” nhưng không thấy có người trả lời. H đi vào trong cửa Hàng thuốc để tìm chủ quán nhưng không gặp ai. Lúc này, H nhìn thấy 01 chiếc ví da màu đen, loại ví nữ, kích thước (20x10) cm đặt trên mặt bàn học màu xanh, nên H nảy sinh ý định trộm cắp. H dùng tay trái cầm chiếc ví đi ra cửa quán, mở cốp xe máy điện nhãn hiệu DK BIKE, biển kiểm soát 17MĐ3-125.88 của H và đặt ví vừa trộm cắp được vào trong cốp xe, đóng cốp xe lại và mở chìa khóa để đi, thì chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1992, trú tại thôn Nguyên Lâm, xã Liên Hoa, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình (là chủ cửa Hng) từ cửa Hng Tràng An cách cửa Hng thuốc khoảng 50 mét đi về gặp H, chị Th hỏi H: “Chị mua gì à?”, H trả lời: “Bán cho em chai thuốc ho của bé 08 tháng”. Chị Th lấy thuốc ho đưa cho H và nói hết 87.000 đồng, H lấy tiền đưa cho chị Th 100.000 đồng, chị Th tìm ví để trả lại 13.000 đồng cho H nhưng không tìm thấy ví. Chị Th lấy tạm tiền trong ngăn kéo để trả cho H số tiền 13.000 đồng. Sau đó H điều khiển xe máy điện đi về nH. Khi đi cách quán của chị Th khoảng 01 km, H dừng xe tại đầu ngõ nH ông Nguyễn Văn Lung, sinh năm 1962, thuộc địa phận thôn Vạn Thắng, xã Liên Hoa, huyện Đông Hưng mở ví kiểm tra và lấy hết số tiền trong ví, rồi vứt chiếc ví lại bên lề đường cạnh bao rác ngay trước cổng nH ông Lung. Sau đó H đi về nH, vào phòng cất số tiền trộm cắp vào ngăn kéo tủ quần áo (H chưa đếm tiền trộm cắp được). Sau khi H rời đi, chị Th chợt nhớ ra trước đó mình để ví trên mặt bàn, nên nghi ngờ H lấy trộm chiếc ví của mình. Chị Th đã đuổi theo H nhưng không đuổi kịp. Chị Th quay về hiệu thuốc nH mình xem lại camera thì phát hiện chính H là người đã thực hiện Hnh vi lấy trộm chiếc ví của mình, nên chị Th đã đến Công an xã L để trình báo. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, khi nghe tin Công an xã L đang truy tìm đối tượng trộm cắp tài sản tại cửa Hàng thuốc của chị Th, do lo sợ nên H đến Công an xã trình báo Hành vi phạm tội và giao nộp toàn bộ số tiền đã trộm cắp tại cửa Hng thuốc Thu Th là 21.023.000 đồng cho Công an xã L. Đối với chiếc ví H vứt trên đường, khoảng 17 giờ cùng ngày, ông Nguyễn Văn Lung, sinh năm 1962, trú tại thôn V, xã L, huyện Đông Hưng đi ra ngõ nhặt được chiếc ví, sau đó nghe thông tin có vụ trộm cắp tài sản nên ông Lung đã mang đến Công an xã Liên Hoa giao nộp.

Tại bản cáo trạng số 30/CT-VKSĐH ngày 19/4/2022Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng đã truy tố bị cáo: Nguyễn Thị Thu H- Về tội “Trộm cắp tài sản ” theo Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Kiểm sát viên trình bày bản luận tội:

Tại phiên tòa sơ thẩm không có tình tiết nào mới, do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng đã truy tố.

Đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu H - Phạm tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

[3]Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào.

[4]Tình tiết giảm nhẹ:

Nguyễn Thị Thu H sau khi phạm tội ra đầu thú; Giao nộp toàn bộ số tiền trộm cắp khắc phục thiệt hại; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; THành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

+Đề nghị: Áp dụng Khoản 1 Điề u 173; Điều 50; Điểm b, i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự .

Xử phạt: Bị cáo từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù. cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng đến 24 tháng.

- Về hình phạt bổ sung:

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ:

- Chiếc ví da và số tiền 21.023.000 đồng của chị Th, xe đạp điện của bị cáo H. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Th và bị cáo là đúng quy định. Do đó, không đặt ra giải quyết trong vụ án.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

Số tiền 21.023.000 đồng đã trả lại cho chị Th. Do đó, không đặt ra giải quyết trong vụ án.

PHẦN NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[I[ Về tố tụ ng:

Trong quá trì nh điề u tra, truy tố cá c Điề u tra viên , Kiể m sá t viên đã tiế n hành thu thập các tài liệu, chứ ng cứ theo đú ng cá c quy đị nh củ a Bộ luậ t tố tụ ng hình sự. Bị cáo, Bị hại, không có khiế u nạ i, tố cá o. Do đó cá c tà i liệ u, chứ ng cứ trong hồ sơ vụ á n là hợ p phá p.

- Về sự vắng mặt của bị hại: Xét thấy bị hại đã có lời khai trong hồ sơ vụ án. Sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 292 Hội đồng xét xử vẫn xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[II] Về nộ i dung:

[1] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Thị Thu H đã khai nhận:

Khoảng 15 giờ 45 phút ngày 07/02/2022, bị cáo H đi mua thuốc ho cho con tại: Hng thuốc Thu Th thuộc địa phận thôn Ng, xã L, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, lợi dụng lúc cửa Hng không có người trông coi, H đã lấy một chiếc ví da màu đen, đặt trên mặt bàn học màu xanh, bên trong có số tiền 21.023.000 đồng của chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1992, trú tại thôn Ng, xã L, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.

Lời khai của bị cáo Nguyễn Thị Thu H phù hợp với các chứng cứ sau:

- Đơn trình báo của chị Nguyễn Thị Th;

- Biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú;

- Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ;

- Lời khai của người làm chứng là ông Nguyễn Văn Lung( về việc nhặt được chiếc ví da).

- Hình ánhVideo do Cơ quan điều tra trích xuất được niêm phong trong phong bì thư số 77/KL-KTHS (ĐT) đã được giám định thể hiện không cắt ghép lưu trong 01 USB nhãn hiệu Kingston, vỏ bằng kim loại màu trắng, loại 08 GB. Cùng với lượng tiền bị H chiếm đoạt là 21.023.000 đồng Hnh vi của bị cáo H đã cấu tHnh tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

…

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Hnh vi của bị cáo Nguyễn Thị Thu H là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến Quyền sở hữu tài sản của chị Nguyễn Thị Th.

[2] Xét tính chất và mức độ của Hành vi phạm tội:

Với lượng tiền bị chiếm đoạt là 21.023.000 đồng thì Hnh vi phạm tội của bị cáo H thuộc trường hợp ít nghiêm trọ ng.

[3]Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào.

[4]Tình tiết giảm nhẹ:

Nguyễn Thị Thu H sau khi phạm tội ra đầu thú; giao nộp toàn bộ số tiền trộm cắp khắc phục thiệt hại; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tHnh khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ và lại đang nuôi con nhỏ. Do đó, không cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo mà cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp.

[5]Về hình phạt bổ sung:

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ:

- Chiếc ví da và số tiền 21.023.000 đồng của chị Th, xe đạp điện của bị cáo H. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Th và bị cáo là đúng quy định. Do đó, không đặt ra giải quyết trong vụ án.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

Số tiền 21.030.000 đồng cơ quan điều tra thu hồi và đã trả lại cho chị Th. Do đó, Do đó, không đặt ra giải quyết trong vụ án.

[8] Về án phí Hình sự sơ thẩm: Bị cáo H phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Về tội danh:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Thu H - Phạm tội “ Trộm cắp tài sản”

[2] Về áp dụng luật và hình phạt:

- Áp dụng Khoản 1 Điề u 173; Điều 50; Điểm b, i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự và Khoản 1 Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự.

+Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu H 09(chín )tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm 06 tháng tháng Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 25/5/2022. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Liên Hoa, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình nơi bị cáo cư trú, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách nếu bị cáo thay đổi nơi cư trú, thì thực hiện theo quy định của Luật thi Hnh án hình sự.

Trong thời gian thử thách nếu bị cáo H vi phạm nghĩa vụ theo Luật thi Hnh án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo H phải thi Hnh hình phạt tù là 09 tháng tù.

[3] Về án phí:

- Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội, quy định mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, tạm ứng án phí.

Bị cáo Nguyễn Thị Thu H phải chịu 200.000đ tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, Bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày. Thời hạn kháng cáo đối với Bị cáo tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa tính từ ngày tống đạt hợp lệ bản án./.

Cỡ chữ