vanban.org

Bản án 31/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 11/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng M, tên gọi khác: Nguyễn Hoàng Phương phạm tội: "Trộm cắp tài sản".

Tiếp tục áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo đến khi đi thi hành án. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Truy thu số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) của bị cáo thu lợi bất chính để sung quỹ Nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hoàng M - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng M, tên gọi khác: Nguyễn Hoàng Phương phạm tội: "Trộm cắp tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2022/HS-ST
Ngày 11/8/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ,TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Kiểm.

Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Phạm Thị Hằng;

- Ông Trần Văn Hùng.

Thư ký phiên toà: Ông Trần Thanh Tân - Thư ký TAND huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Đinh Ngọc Vĩnh - Kiểm sát viên.

Ngày 11/8/2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2022/HSST ngày 19/7/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2022/QĐXXST-HS ngày 28/7/2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Hoàng M; (Tên gọi khác: Nguyễn Hoàng Phương), sinh năm 1986.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Xóm TT 1, xã TD, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 06/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Duy M và bà Hoàng Thị M; Có vợ là Nguyễn Thị Thùy L và 01 con sinh năm 2022.Tiền sự: Không.

Tiền án: 01.Tại Bản án số 33/HSST ngày 25/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt bị cáo 12 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản". Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/4/2019.

Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 20, ngày 15/3/2017 của Công an huyện Đ xử phạt Cảnh cáo về hành vi "Đánh bạc".

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 27/5/2022 đến ngày 02/6/2022 bị Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

Bị hại: Bệnh viện đa khoa huyện Đ. Địa chỉ: Tổ dân phố Trung Kiên, thị trấn Chợ Chu, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Ngọc Thắng, sinh năm 1972. Chức vụ: Phó giám đốc bệnh viện. Văn bản ủy quyền số 154, lập ngày 03/6/2022. Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Duy M, sinh năm 1958. Trú tại: Xóm TT 1, xã TD, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt

2. Anh Chu Thanh T, sinh năm 1979. Trú tại: Xóm AT, xã ĐT, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.

Người làm chứng:

1. Anh Lương Văn Nhsinh năm 1980. Trú tại: Xóm Lợi B, xã PT huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.

2. Anh Ma Đình D, sinh năm 1981.Trú tại: Tổ dân phố TT, thị trấn Chợ Chu, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.Văng mặt.

3. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1984. Trú tại: Tổ dân phố TC, thị trấn Chợ Chu, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.

4. Anh Nguyễn Văn Tr, sinh năm 1973. Trú tại: Xóm HT, xã PT, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.

5. Anh Lương Quốc Tu, sinh năm 1980. Trú tại : Tổ dân phố Chợ Chu, thị trấn Chợ Chu, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 26/05/2022, Nguyễn Hoàng M mượn xe mô tô nhãn hiệu Angel, biển kiểm soát: 20H7- 8618 của ông Nguyễn Duy Mẫn là bố đẻ của M, đi đến Bệnh viện Đa Khoa huyện Đ, thuộc Tổ dân phố Trung Kiên, thị trấn Chợ Chu, huyện Đ, nhận thuốc ARV để điều trị Virus HIV được cấp hàng tháng. Khi đến nơi, M dựng xe mô tô phía trước cổng bệnh viện rồi đi lên phòng cấp phát thuốc tại tầng hai của dãy nhà A để nhận thuốc nhưng chưa thấy bác sỹ nên M đi dọc theo hành lang. Khi đi qua Phòng 209 (Phòng làm việc của ông Trần Ngọc Thắng, Phó giám đốc bệnh viện), thấy trên bàn làm việc có để 01 chiếc laptop nhãn hiệu Dell Inspiron 15 5567 grey (Chiếc laptop này ông Trần Ngọc Thắng được giao quản lý, sử dụng theo quyết định số: 227 ngày 15/3/2018 của giám đốc Bệnh viện đa khoa huyện Đ), trên laptop có cắm 01 USB màu trắng. M liền nảy sinh ý định lấy trộm chiếc laptop trên mang bán lấy tiền để tiêu xài cá nhân. Sau đó, M đi vào trong phòng dùng tay tháo dây sạc ra khỏi laptop rồi cầm chiếc laptop giấu vào bên trong chiếc áo khoác đang mặc, kẹp bên nách trái rồi đi bộ ra ngoài. Khi đi xuống đến chân cầu thang tầng một, M cởi áo khoác để quấn chiếc laptop và đi thẳng ra vị trí để xe mô tô, đặt chiếc laptop vừa trộm lên yên xe. Sau đó, M điều khiển xe mô tô đến cửa hàng mua bán điện thoại của anh Nguyễn Văn Tuyền và cửa hàng của anh Ma Đình Duẩn tại thị trấn Chợ Chu để bán chiếc laptop vừa trộm cắp được nhưng không ai mua. Sau đó, M tiếp tục điều khiển xe mô tô đi đến khu vực chợ Gốc Đa thuộc tổ dân phố Chợ Chu, thị trấn Chợ Chu, huyện Đ, thì gặp anh Lương Quốc Tuấn đang ngồi uống bia tại quán M Hoa cùng với Chu Thanh Tuấn và Nguyễn Văn Tráng. M liền cầm chiếc laptop đi vào và bảo với Lương Quốc Tuấn là: "Anh cầm cho em cái máy", Tuấn hỏi lại: "Máy gì, máy của ai" thì M bỏ Laptop ra và nói: "Máy của vợ con em, cầm cho em hai trăm nghìn đồng", Tuấn đồng ý rồi lấy tiền để trả nhưng không đủ thì Chu Thanh Tuấn nói: "Đây tôi còn tiền đây", đồng thời đưa cho Lương Quốc Tuấn 200.000 đồng, Tuấn cầm tiền đưa cho M, M để lại chiếc laptop trên bàn, sau đó Chu Thanh Tuấn mang chiếc laptop về cất tại nhà mình. Đối với số tiền 200.000 đồng M đã tiêu xài cá nhân hết.

Ngày 27/05/2022, Nguyễn Hoàng M đã đến Công an huyện Đ đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của mình và giao nộp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM Angel biển kiểm soát 20H7- 8618; 01 mũ bảo hiểm; 01 (một) áo khoác bò nam màu xanh, bên trong cổ áo có nhãn hiệu HIDDENFLEX, áo cũ đã qua sử dụng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 17/KL-ĐG ngày 31/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện Đ kết luận: 01 (Một) laptop nhãn hiện DELL Inspiron 15 5567, số serial: 87C2K22, màu xám đã qua sử dụng, được mua mới từ năm 2018. Tài sản có giá trị là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng); 01 (Một) USB màu trắng, mặt trước có chữ CGVA, mặt sau có chữ +0287634C, do chiếc USB là tài sản Nhà nước cấp riêng, không được trao đổi, mua bán trên thị trường do vậy Hội đồng không tiến hành xác định giá trị.

Quá trình điều tra, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện.

Bản Cáo trạng số: 34/CT-VKSĐH, ngày 15/7/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng M, tên gọi khác: Nguyễn Hoàng Phương về tội "Trộm cắp tài sản", theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm như đã truy tố trong Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng M, tên gọi khác: Nguyễn Hoàng Phương phạm tội: "Trộm cắp tài sản".

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng M, tên gọi khác: Nguyễn Hoàng Phương từ 18 đến 24 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 27/5/2022 đến ngày 02/6/2022.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Trả ông Nguyễn Duy Mẫn: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM Angel biển kiểm soát 20H7- 8618.

01 mũ bảo hiểm có dòng chữ YAMAHA; 01 (một) áo khoác bò nam màu xanh, bên trong cổ áo có nhãn hiệu HIDDENFLEX, áo cũ đã qua sử dụng của Nguyễn Hoàng M, do tại phiên Toà M không yêu cầu lấy lại.

Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng các điều 135, 136, 331.333 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 /12/ 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh, điều luật truy tố: Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở để khẳng định:

Khoảng 07 giờ 38 phút, ngày 26/5/2022 tại phòng 209 tầng 2 nhà A của Bệnh viện đa khoa huyện Đ, thuộc Tổ dân phố Trung Kiên, thị trấn Chợ Chu, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, lợi dụng sự sơ hở của ông Trần Ngọc Thắng khi đi ra ngoài không khóa cửa phòng làm việc, Nguyễn Hoàng M đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp 01 (Một) chiếc laptop nhãn hiệu DELL Inspiron 15 5567, số serial: 87C2K22, màu xám đã qua sử dụng của Bệnh viện đa khoa huyện Đ có giá trị còn lại theo kết luận của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Đ là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng), hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Trộm cắp tài sản", theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Điều 173.Tội trộm cắp tài sản.

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng… thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Về nhân thân, tính chất, mức độ và hành vi phạm tội:

Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng thực hiện với lỗi cố ý. Do đó, hành vi bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến quyền chiếm hữu, sử dụng tài sản của công dân, đi ngược lại công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm của toàn xã hội, đã xâm phạm đến các điều cấm được Bộ luật hình sự bảo vệ. Hành vi bị cáo đã thực hiện phải được xử lý bằng pháp luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Sau khi trộm cắp tài sản, bị cáo đến công an huyện Đ đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có 01 tiền án, chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ vào nhân thân, tính chất của vụ án và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, thấy rằng bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng cố ý thực hiện. Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, đã có một tiền án về tội Trộm cắp tài sản.

Do vậy, để đảm bảo phòng chống tội phạm tại địa phương trong tình hình hiện nay có diễn biến phức tạp, cần có mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định để tập trung cải tạo, giáo dục bị cáo mới sớm trở thành người công dân lương thiện, có ích cho gia đình và xã hội và phòng ngừa chung.

Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện của bị hại trong vụ án không yêu cầu bị cáo bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Anh Chu Thanh Tuấn là người đã sử dụng số tiền 200.000 đồng để nhận cầm cố tài sản bị cáo đã trộm cắp tuy nhiên quá trình điều tra anh Chu Thanh Tuấn không không yêu cầu bị cáo bồi thường, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vật chứng: 01 (Một) chiếc laptop nhãn hiệu DELL Inspiron 15 5567, số serial: 87C2K22, màu xám đã qua sử dụng; 01 (Một) USB màu trắng, mặt trước có chữ CGVA, mặt sau có chữ +0287634C, 01chiếc USB là tài sản Nhà nước cấp riêng, không được trao đổi, mua bán, là tài sản hợp pháp của Bệnh viện đa khoa huyện Đ, cơ quan điều tra đã trả lại cho Bệnh viện đa khoa huyện Đ quản lý sử dụng là đúng quy định.

- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM Angel biển kiểm soát 20H7- 8618, đăng ký mang tên bà Lương Thị Thúy Lan do ông Nguyễn Duy Mẫn mua lại nhưng chưa làm thủ tục sang tên, ông Mẫn không biết bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, cần trả lại cho ông Mẫn là người đang quản lý sử dụng.

01 mũ bảo hiểm có dòng chữ YAMAHA; 01 (một) áo khoác bò nam màu xanh, bên trong cổ áo có nhãn hiệu HIDDENFLEX, áo cũ đã qua sử dụng là tài sản hợp pháp của bị cáo, tuy nhiên tại phiên toà, bị cáo không yêu cầu được lấy lại nên cần tiêu huỷ.

Trong vụ án có anh Chu Thanh Tuấn là người nhận cầm cố tài sản bị cáo đã trộm cắp, tuy nhiên anh Chu Thanh Tuấn không biết tài sản do phạm tội mà có nên không có cơ sở xử lý.

Đối với số tiền 200.000 đồng bị cáo có được do anh Chu Thanh Tuấn trả cho bị cáo khi cầm cố tài sản trộm cắp là số tiền thu lợi bất chính, anh Chu Thanh Tuấn không yêu cầu bị cáo bồi thường nên cần truy thu sung quỹ Nhà nước.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Đề nghị của vị Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt và vấn đề khác là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng M, tên gọi khác: Nguyễn Hoàng Phương phạm tội: "Trộm cắp tài sản".

1. Áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng M, tên gọi khác: Nguyễn Hoàng Phương 18 ( mười tám) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 27/5/2022 đến ngày 02/6/2022.

Tiếp tục áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo đến khi đi thi hành án.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Truy thu số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) của bị cáo thu lợi bất chính để sung quỹ Nhà nước.

Trả ông Nguyễn Duy Mẫn: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM Angel biển kiểm soát 20H7- 8618 màu sơn đen, trắng cũ đã qua sử dụng.

Tiêu huỷ: 01 mũ bảo hiểm trước mũ có dòng chữ YAMAHA; 01 (một) áo khoác bò nam màu xanh, bên trong cổ áo có nhãn hiệu HIDDENFLEX, áo cũ đã qua sử dụng của bị cáo Nguyễn Hoàng M.

Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo các biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 02/8/2022 giữa Cơ quan Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ.

3. Án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 135; 136; 331; 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng M, tên gọi khác: Nguyễn Hoàng Phương phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt; báo cho biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ