- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ TP. CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 31/2022/HS-ST Ngày 30-11-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, TP. CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Viễn
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Văn Thừa
Ông Trần Thanh Vũ
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ, TP. Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Mạc Thị Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 31/2022/TLHS-ST ngày 10 tháng 11 năm 2022 đối với:
Bị cáo Nguyễn Thành H sinh năm 1979
Nơi sinh: tỉnh T;
Nơi nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu phố Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh K;
Chỗ ở hiện nay: Số 196, tổ 6, khu phố K, thị trấn T, huyện T, tỉnh K;
Nghề nghiệp: tài xế;
Trình độ văn hóa: 8/12;
Dân tộc: Kinh;
Giới tính: Nam;
Tôn giáo: công giáo;
Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Nguyễn Thành R (chết) và bà Nguyễn Thị T (chết);
Vợ Phan Thị Hoàng Y, sinh năm 1979;
Có 02 con lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2010;
Tiền án: Không; Tiền sự: Không;
Bị cáo tại ngoại “có mặt”.
- Người bị hại:
Ông Trần Trung H, sinh năm 1992 “vắng mặt”
Bà Nguyễn Diệu H, sinh năm 1982 “vắng mặt”
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Phan Trần Bảo Q, sinh năm 1984. Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh K “vắng mặt”.
- Người làm chứng:
Ông Nguyễn Duy L, sinh năm 1995. Nơi cư trú: số 229 F1, xã T, huyện V, thành phố Cần Thơ “vắng mặt”
Ông Vương Hoàng T, sinh năm 1990. Nơi cư trú: Ấp F1, xã T, huyện V, thành phố Cần Thơ “vắng mặt”
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 04 giờ 30 phút, ngày 19/4/2022 bị cáo Nguyễn Thành H điều khiển xe ô tô 04 chổ biển kiểm soát 68A - 128.90 chở anh Vương Hoàng T và anh Nguyễn Duy L đi trên tỉnh lộ 919 từ hướng huyện C, thành phố Cần Thơ về hướng huyện V, thành phố Cần Thơ. Khi đến đoạn Km số 12+400 tại ấp 1, xã T, huyện C, đoạn đường bằng nhựa, đường thẳng không có bị che khuất tầm nhìn, do bị cáo ngủ gật nên điều khiển xe sang phần đường bên trái đụng vào xe ô tô tải biển kiểm soát 68H - 015.44 do anh Trần Trung H điều khiển chở chị Nguyễn Diệu H đi hướng ngược chiều với hướng xe bị cáo, hậu quả làm 02 xe ô tô bị hư hỏng nặng, không có thương tích về người.
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C tạm giữ 01 xe ô tô biển kiểm soát 68H - 015.44 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe, 01 giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Trung H, 01 giấy chứng nhận kiểm định của xe ô tô biển kiểm soát 68H - 015.44; 01 xe ô tô 68A - 128.90, 01 giấy phép lái xe hạng E mang tên Nguyễn Thành H, 01 giấy chứng nhận kiểm định xe và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô 68A - 128.90.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 21/KL-HĐĐGTS ngày 26 tháng 7 năm 2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của huyện C kết luận: tổng giá trị tài sản xe ô tô biển kiểm soát 68H - 015.44 bị thiệt hại 151.352.280đồng.
Trong quá trình điều tra Nguyễn Thành H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại. Bị hại H làm đơn bãi nại cho bị cáo.
Về tang vật: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C trả lại cho ông Nguyễn Trung H 01 xe ô tô biển kiểm soát 68H - 015.44 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe, 01 giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Trung H, 01 giấy chứng nhận kiểm định của xe ô tô biển kiểm soát 68H - 015.44; trả lại cho bị cáo 01 xe ô tô 68A - 128.90, 01 giấy chứng nhận kiểm định xe và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô 68A - 128.90. Riêng giấy phép lái xe hạng E mang tên Nguyễn Thành H đang tạm giữ chờ xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 183.700.000đồng.
Tại bản cáo trạng số 32/CT-VKSCĐ ngày 10/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ truy tố bị cáo Nguyễn Thành H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát giữ quyền công tố sau khi luận tội và tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thành H từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.
Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Cấm bị cáo thực hiện hành nghề lái xe trong thời hạn một năm.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tiếp tục tạm giữ giấy phép lái xe hạng E của bị cáo cho đến khi thi hành xong hình phạt bổ sung.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo thực hiện xong nghĩa vụ bồi thường cho gia đình bị hại với số tiền 183.700.000đồng. Bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Qua đối chiếu quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nhận thấy các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời thừa nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, cùng các chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định bị cáo điều khiển xe ô tô không đảm bảo an toàn, ngủ gật khi lái xe, lấn sang phần đường bên trái theo hướng ngược chiều đổ lại, gây tai nạn làm thiệt hại tài sản của bị hại trên 100.000.000đồng. Hành vi phạm tội bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Tình tiết giảm nhẹ bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho người bị hại; bị cáo phạm tội lần đầu; chưa có tiền án, tiền sự; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Xét thấy, bị cáo phạm tội quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt phạt tiền từ 30.0000.000 đồng đến 100.000.000đồng, cải tạo không giam giữ đến 03 năm, phạt tù từ 01 năm đến 05 năm tù là tội nghiêm trọng. Tuy nhiên xét bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung theo đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ.
Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Cấm bị cáo hành nghề lái xe trong thời hạn một năm.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tiếp tục tạm giữ giấy phép lái xe Hạng E của bị cáo cho đến khi thi hành xong hình phạt bổ sung.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo thực hiện xong nghĩa vụ bồi thường.
Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Điều 1 Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022, sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành H 01 (một) năm tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 30/11/2022.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh K giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Cấm bị cáo hành nghề lái xe trong thời hạn một năm, kể từ ngày án có hiệu lực.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Trả lại cho bị cáo giấy phép lái xe hạng E, sau khi chấp hành xong hình phạt bổ sung.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 26/QĐ-VKS-CĐ ngày 10/11/2022 và Bản thống kê vật chứng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ).
4. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo thực hiện xong nghĩa vụ bồi thường.
5. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, buộc bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân dân nơi cư trú hoặc được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - TAND TP. Cần Thơ; - VKS TP.Cần Thơ; - VKSND huyện Cờ Đỏ; - Cơ quan Điều tra Công an huyện Cờ Đỏ; - Cơ quan THAHS Công an huyện Cờ Đỏ; - Chi cục THADS sự huyện Cờ Đỏ; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Minh Viễn |