- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tô Văn T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Tô Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2022/HS-ST Ngày 14/6/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn An
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Thanh
Ông Huỳnh Văn Hoàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thảo Lan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Phạm Trung Thái - Kiểm sát viên.
Trong ngày 14 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2022/TLST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2022/QĐXXST-HS ngày 27/5/2022 đối với bị cáo:
Tô Văn T, sinh ngày 30/4/1981, tại tỉnh Tiền Giang. Trú tại: Ấp T, xã N, huyện C, tỉnh T; Nghề nghiệp: Làm vườn; Trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Tô Văn B, sinh năm 1955 và bà Nguyễn Thị Bé H, sinh năm 1957; Anh chị em ruột có 03 người, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Ngọc B, sinh năm 1982, có 02 người con lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, (có mặt).
Người bị hại: Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1986 (xin vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh T.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Nguyễn Thị Ngọc B, sinh năm 1982 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã N, huyện C, tỉnh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tô Văn T làm vườn giáp với thửa đất trồng sầu riêng loại Mon thong tại ấp Hòa An, xã Ngũ Hiệp, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang của anh Nguyễn Thanh T. Khoảng 18 giờ ngày 09/12/2021, Tô Văn T quan sát thấy vườn sầu riêng của anh T đang cho trái và chuẩn bị thu hoạch, không người trông giữ nên nảy sinh ý định hái trộm sầu riêng bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, T đi bộ qua vườn của anh T dùng cây tràm có sẵn tại gốc sầu riêng có chiều dài 3,62m, một đầu cột đoạn cây tràm có chiều dài 62cm bằng dây nylon màu đen, T dùng hai tay đẩy cây tràm theo hướng từ dưới lên để làm gãy cuốn sầu riêng, hái được 33 trái rồi nhặt một bao nylon màu trắng cam có chữ OGANIC XTRA có sẵn ở gốc sầu riêng để vào và đem về nhà cất giấu 09 trái trong lu xi măng ngay hành lang, 09 trái giấu trong ngăn hộc tủ nhà bếp, 10 trái giấu trong hai giỏ nhựa màu xanh, đỏ phía sau nhà bà Nguyễn Thị Hồng N (mẹ vợ của T), 02 trái giấu tại chòi giữ vườn, 03 trái sót lại tại gốc sầu riêng vườn của anh T. Đến ngày 10/12/2021, T bị Công an phát hiện và thu giữ tang vật.
Vật chứng thu giữ gồm: 33 trái sầu riêng loại Mon thong tổng trọng lượng 94kg; 01 cây tràm dài 3,62m, một đầu cột đoạn cây tràm có chiều dài 62cm bằng dây nylon màu đen; 01 bao nylon màu trắng, cam hiệu OGANIC XTRA; 02 bao nylon màu xanh hiệu Con Cò; 01 giỏ nhựa màu xanh; 01 giỏ nhựa màu đỏ cùng kích thước 53cm x 46cm.
Bản kết luận định giá tài sản số 02 ngày 17/01/2022, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Cai Lậy kết luận: 33 trái sầu riêng loại Mon thong tổng trọng lượng 94kg, trị giá 6.016.000 đồng.
Cơ quan điều tra Công an huyện Cai Lậy đã trao trả cho anh Nguyễn Thanh T 33 trái sầu riêng loại Mon thong tổng trọng lượng 94kg.
Đối với bà Nguyễn Thị Hồng N và chị Nguyễn Thị Ngọc B không biết việc Tô Văn T hái trộm sầu riêng đem về nhà cất giấu nên không xem xét xử lý bà Nhung và chị Bích.
Chị Nguyễn Thị Ngọc B là vợ của Tô Văn T đã bồi thường số tiền 4.820.000 đồng, anh T đã nhận lại tài sản và tiền bồi thường, không yêu cầu gì thêm, tự nguyện làm đơn xin bãi nại trách nhiệm hình sự và dân sự.
Trong quá trình điều tra, Tô Văn T có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tích cực tác động gia đình bồi thường cho bị hại, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tại bản cáo trạng số 19/CT-VKSHCL ngày 29/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang truy tố Tô Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Trong phần tranh luận, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy phát biểu quan điểm giải quyết vụ án đã đưa ra những chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, tuyên bố bị cáo Tô Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”, xử phạt 01 năm tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 02 năm.
Về vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 cây tràm dài 3,62m, một đầu cột đoạn cây tràm có chiều dài 62cm bằng dây nylon màu đen; 01 bao nylon màu trắng, cam hiệu OGANIC XTRA; 02 bao nylon màu xanh hiệu Con Cò; 01 giỏ nhựa màu xanh và 01 giỏ nhựa màu đỏ cùng kích thước 53cm x 46cm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cai Lậy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục qui định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa sơ thẩm Tô Văn T khai nhận: Khoảng 18 giờ ngày 09/12/2021, tại ấp Hòa An, xã Ngũ Hiệp, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, Tô Văn T có hành vi lén lúc hái trộm 33 trái sầu riêng, loại Mon thong, tổng trọng lượng 94kg, tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 6.016.000 đồng, thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Lời khai nhận trên của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy truy tố Tô Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân là một trong những khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự địa phương. Bị cáo biết rõ việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng do muốn có tiền tiêu xài nên lợi dụng lúc vườn sầu riêng của anh T không người trông giữ, Tô Văn T hái trộm 33 trái sầu riêng, loại Mon thong, tổng trọng lượng 94kg trị giá 6.016.000 đồng đem về nhà cất giữ. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội. Tuy nhiên, số sầu riêng bị cáo hái trộm Cơ quan điều tra đã thu giữ và trả lại cho anh T, bị cáo đã tích cực tác động gia đình bồi thường cho bị hại số tiền 4.820.000 đồng.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, Tô Văn T có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tích cực tác động gia đình bồi thường cho bị hại, bị cáo có ông ngoại là liệt sĩ có công với cách mạng, người bị hại có đơn xin bãi nại trách nhiệm dân sự và hình sự cho bị cáo, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát đề nghị cho bị cáo hưởng án treo, xét thấy đủ điều kiện, đủ để giáo dục bị cáo nên chấp nhận.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 cây tràm dài 3,62m, một đầu cột đoạn cây tràm có chiều dài 62cm bằng dây nylon màu đen; 01 bao nylon màu trắng, cam hiệu OGANIC XTRA; 02 bao nylon màu xanh hiệu Con Cò; 01 giỏ nhựa màu xanh và 01 giỏ nhựa màu đỏ cùng kích thước 53cm x 46cm là công cụ để phạm tội không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị Ngọc B đã bồi thường thay cho bị cáo số tiền 4.820.000 đồng, anh T đã nhận lại tài sản và tiền bồi thường, không yêu cầu gì thêm, tự nguyện làm đơn xin bãi nại trách nhiệm dân sự và có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, khung hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử lý vật chứng là có cơ sở, phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Bị cáo Tô Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.
Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 331 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Xử:
1. Tuyên bố bị cáo Tô Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự, Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Xử phạt bị cáo Tô Văn T 01 (Một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (Hai) năm kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Tô Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Ngũ Hiệp, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách, trường hợp bị cáo Tô Văn T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án Hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo
3. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 cây tràm dài 3,62m, một đầu cột đoạn cây tràm có chiều dài 62cm bằng dây nylon màu đen; 01 bao nylon màu trắng, cam hiệu OGANIC XTRA; 02 bao nylon màu xanh hiệu Con Cò; 01 giỏ nhựa màu xanh và 01 giỏ nhựa màu đỏ cùng kích thước 53cm x 46cm.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, bị cáo Tô Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người bị hại vắng mặt thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND Cai Lậy; - CCTHADS Cai lậy; - Các đương sự; - UBND xã; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn An |