vanban.org

Bản án 31/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Cà Mau Tuyên án 02/03/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 02/03/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn L về việc xin được hưởng án treo; Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2021/HS-ST ngày 15 tháng 12 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau về phần hình phạt.

Xử phạt bị cáo L 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi,…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn L về việc xin được hưởng án treo; Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2021/HS-ST ngày 15 tháng 12 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau về phần hình phạt.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2022/HS-PT
Ngày: 02-3-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Quế

Các Thẩm phán:

Ông Trần Trọng Nhân

Ông Đỗ Cao Khánh

- Thư ký phiên toà: Ông Hồ Văn Mil, là Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Kông - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/2022/TLPT-HS ngày 21 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo Trần Văn L do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2021/HS-ST ngày 15 tháng 12 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

- Bị cáo có kháng cáo:

Trần Văn L, sinh năm 1970 tại xã Ng, huyện U, tỉnh Cà Mau; nơi cư trú: Ấp 4, xã Ng, huyện U, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm vuông; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Th (đã chết) và bà Nguyễn Thị T; có vợ (Nguyễn Tuyết Mai đã ly hôn) và 03 người con; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại có mặt.

- Bị hại: Bà Lê Minh Ng, sinh năm 1972 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Số 133, ấp Thị Tứ, thị trấn Một Ngàn, huyện Châu Thành A, tỉnh

Hậu Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 20 phút ngày 24/02/2021 trong lúc bà Lê Minh Ng đang ở nhà mẹ ruột tên Trần Thị H thì nghe tiếng cự cãi giữa Trần Văn L (cậu ruột của bà Ng) và bà H vang lên ở nhà L (cặp bên nhà bà Hạnh), về việc L cho rằng bà H đã chặt lá dừa nước của L mà không hỏi ý kiến. Bà Ng ở phía sau nhà bà H nói vọng qua “Chặt có mấy tàu lá có gì đâu mà cậu làm dữ vậy”. L nghe vậy liền đi qua nhà bà H và cự cãi với bà Ng. Trong lúc cự cãi, L dùng tay phải đánh liên tiếp 02 cái trúng vào mắt trái và mũi của bà Ng làm cho mắt trái của bà Ng bị sưng bầm, tụ máu, rách da mí mắt và mũi bị chảy máu. Sau đó, L bỏ đi về nhà, bà Ng đến Trung tâm Y tế huyện U Minh điều trị sơ bộ và đến ngày 26/02/2021 nhập viện điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Cà Mau.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 148/TgT-21 ngày 07/4/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Cà Mau kết luận thương tích của bị hại Lê Minh Ng như sau:

- 01 vết sẹo mi trên góc ngoài mắt trái, kích thước 1,2cm x 0,1cm, tỷ lệ 03%,

do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra.

- Mắt trái: Chấn thương dập nhãn cầu, giảm thị lực 7/10, tỷ lệ 05%, do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra.

- Lún thành trong hốc mắt xoang sàng bên trái, tỷ lệ 07%, do vật tày hoặc vật

tày có cạnh gây ra.

Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 14%.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2021/HS-ST ngày 15 tháng 12 năm 2021, Tòa án nhân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau đã quyết định: Căn cứ khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt L 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 27 tháng 12 năm 2021, bị cáo có kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu: Đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2021/HS-ST ngày 15 tháng 12 năm 2021 của Tòa án nhân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau về phần hình phạt, xử phạt bị cáo 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo.

- Lời nói sau cùng của bị cáo: Thừa nhận hành vi phạm tội, xin được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội là phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ. Cụ thể: Vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 24/02/2021, xuất phát từ việc mẹ của bà Lê Minh Ng chặt lá dừa nước mà không hỏi ý kiến của Trần Văn L nên giữa L và mẹ bà Ng xảy ra cự cãi, sau đó dẫn đến việc cự cãi giữa L và bà Ng. Trong lúc nóng giận, L dùng tay đánh 02 cái trúng vào mắt trái và mũi của bà Ng làm cho mắt trái của bà Ng bị sưng bầm, tụ máu, rách da mí mắt và mũi bị chảy máu. Kết quả giám định xác định bà Ng bị thương tích 14%. Với các tình tiết này, Tòa án nhân dân huyện U Minh đã xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp tội phạm ít nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là cậu ruột của bị hại, nhưng lại gây thương tích cho bị hại 14% là trái pháp luật, phạm tội thì phải bị xử lý và chịu hình phạt theo pháp luật hình sự.

Khi xét xử, cấp sơ thẩm có xem xét tính chất của vụ án, mức độ của hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, gồm: Đã bồi thường được một phần thiệt hại; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Từ đó, cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 06 tháng tù (mức khởi điểm của khung hình phạt) là tương xứng. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo với lý do bị cáo là lao động chính trong gia đình. Tình tiết giảm nhẹ này không mới do bị cáo đã nộp cho Tòa án cấp sơ thẩm (bút lục số 188) nhưng không được cấp sơ thẩm xem xét là có thiếu xót. Tuy nhiên, với tình tiết giảm nhẹ này cũng không làm thay đổi mức hình phạt mà cấp sơ thẩm đã quyết định đối với bị cáo. Vì vậy không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Với các phân tích nêu trên, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên tòa không được chấp nhận.

Do kháng cáo không được chấp nhận, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo hoặc bị kháng nghị, đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136, điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 134, điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn L về việc xin được hưởng án treo; Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2021/HS-ST ngày 15 tháng 12 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau về phần hình phạt.

2. Xử phạt bị cáo L 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

3. Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ