vanban.org

Bản án 31/2022/HNGĐST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị H. Về hôn nhân: Chị Phạm Thị H được ly hôn với anh Đào Thanh L. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp hôn nhân gia đình ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH BÌNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 25 – 4 – 2022
V/v tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly
hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Trung.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Văn Liệt.

2. Ông Phan Thanh Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Anh Thư là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

Ngày 25 tháng 4 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 27/2022/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2022 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2022/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 4 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị H, sinh năm 1988.

Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đ.

- Bị đơn: Anh Đào Thanh L, sinh năm 1984.

Địa chỉ cư trú: Số X, ấp T, xã A, huyện T, tỉnh Đ.

Chị Phạm Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Đào Thanh L vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Phạm Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Chị Phạm Thị H và anh Đào Thanh L kết hôn năm 2006 và có đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Đ vào ngày 21/01/2008. Hôn nhân giữa chị H và anh L được xây dựng trên cơ sở tự tìm hiểu và kết hôn.

Trong khoảng thời gian sống chung, vợ chồng không hạnh phúc, thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, bất đồng ý kiến, cải vả. Anh L không quan tâm chăm sóc vợ con và gia đình, hay ăn nhậu, cờ bạc, chị H có nhiều lần khuyên ngăn nhưng không được. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gay gắt, chị H và anh L bắt đầu sống ly thân từ tháng 02 năm 2019 đến nay. Khoảng thời gian sống ly thân chị H và anh L có hàn gắn tình cảm nhưng không thành.

Chị Phạm Thị H yêu cầu ly hôn với anh Đào Thanh L.

Về con chung: Chị H và anh L có 02 con chung tên Đào Duy T, sinh ngày 17/01/2007 và Đào Thị Yến Nhi, sinh ngày 04/7/2009 (Hiện đang sống chung với chị H). Chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con chung, không yêu cầu anh Đào Thanh L cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn anh Đào Thanh L không có Văn bản ghi ý kiến gửi cho Tòa án.

Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án gồm:

- Đơn khởi kiện (Bản chính); Trích lục khai sinh Đào Thị Yến N (Bản sao); Giấy khai sinh Đào Duy T (Bản sao); Trích lục kết hôn (Bản sao); Chứng minh nhân dân chị Phạm Thị H (Bản photo); Sổ hộ khẩu (Bản sao); Đơn xin xác nhận nơi cư trú của người bị kiện ngày 27/5/2019 (Bản chính); Bản khai của chị Phạm Thị H ngày 17/3/2022 (Bản chính), bản khai của cháu Đào Duy Thanh ngày 17/3/2022 (Bản chính), bản khai của cháu Đào Thị Yến N, ngày 17/3/2022 (Bản chính).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Theo yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị H và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật đang tranh chấp là “V/v tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn anh Đào Thanh L cư trú tại Số X, ấp T, xã A, huyện T, tỉnh Đ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa hôm nay, chị Phạm Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Đào Thanh L được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị H, anh L theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Chị Phạm Thị H yêu cầu ly hôn với anh Đào Thanh L.

Xét thấy, chị H và anh L kết hôn năm 2006, có đăng ký kết hôn Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Đ vào ngày 21/01/2008, là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận.

Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau, không hòa hợp trong cuộc sống. Anh L không quan tâm chăm sóc vợ con và gia đình, hay ăn nhậu, cờ bạc, chị H có nhiều lần khuyên ngăn nhưng không được. Ngoài ra, vợ chồng không còn sống chung từ tháng 02 năm 2019 đến nay, khoảng thời gian sống ly thân anh chị có hàn gắn tình cảm với nhau nhưng không thành. Hơn nữa, chị H xác định, chị H và anh L không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, không tạo điều kiện để cho nhau phát triển về mọi mặt.

Như vậy, có cơ sở xác định hôn nhân giữa chị H và anh L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, chị Phạm Thị H yêu cầu ly hôn với anh Đào Thanh L là phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được chấp nhận.

Về con chung: Chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung tên Đào Duy T, sinh ngày 17/01/2007 và Đào Thị Yến N, sinh ngày 04/7/2009, không yêu cầu anh Đào Thanh L cấp dưỡng cho con.

Xét thấy, hiện nay chị H đang trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Đào Duy T và Đào Thị Yến N. Ngoài ra, chị H xác định, chị H có việc làm ổn định, có thu nhập đảm bảo cho việc nuôi con. Do đó, để tránh việc thay đổi môi trường sống, để đảm bảo cho cháu T và cháu N phát triển toàn diện cả vật chất lẫn tinh thần cần giao cháu Đào Duy T và Đào Thị Yến N cho chị H nuôi dưỡng. Vì vậy, chị H yêu cầu nuôi 02 con chung tên Đào Duy T, sinh ngày 17/01/2007 và Đào Thị Yến N, sinh ngày 04/7/2009 là có căn cứ chấp nhận.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị Phạm Thị H không yêu cầu anh Đào Thanh L cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Phạm Thị H xác định là không có, không yêu cầu giải quyết; anh L không có văn bản ghi ý kiến gửi cho Tòa án nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Phạm Thị H phải chịu án phí về hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị H.

- Về hôn nhân: Chị Phạm Thị H được ly hôn với anh Đào Thanh L.

- Về con chung: Giao con chung tên Đào Duy T, sinh ngày 17/01/2007 và Đào Thị Yến N, sinh ngày 04/7/2009, cho chị Phạm Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh Đào Thanh L không phải cấp dưỡng nuôi con, do chị H không yêu cầu.

Chị H và anh L được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và thăm nom con chung, không ai được cản trở.

Về án phí: Chị Phạm Thị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0001393 ngày 10/02/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp. Chị Phạm Thị H đã nộp xong tiền án phí hôn nhân và gia đình.

Anh Đào Thanh L không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ