vanban.org

Bản án 31/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ vào điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, …

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Sơn Thị X. Về quan hệ hôn nhân: Bà Sơn Thị X được ly hôn với ông Đinh Sa M. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ vào điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, …
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 14-6-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chiêm Ngọc Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Đào Khel.

2/ Ông Phạm Hữu Thắng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Văn Ngọc Hân - Thư ký Toà án nhân dân thành

phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng

tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Ngọc - Kiểm sát viên.

Trong ngày 14/6/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng,

tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 92/2022/TLST-HNGĐ ngày 05/4/2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 17/5/2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Sơn Thị X, sinh năm 1992 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp K, xã C, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị đơn: Ông Đinh Sa M, sinh năm 1981 (vắng mặt).

Địa chỉ: Đường L, khóm G, phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 06/02/2022 cũng như trong quá trình giải

quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Sơn Thị X trình bày: Bà Sơn Thị X và ông Đinh Sa M tự nguyện chung sống với nhau năm 2010, đến năm 2011 thì đăng ký kết hôn và được UBND phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn số 73 ngày 13/6/2011. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã, nguyên nhân chính là do tính hình không hoà hợp, không cùng chí hướng, đời sống vợ chồng không còn hạnh phúc và không thể tiếp tục sống chung. Bà X và ông M đã không còn chung sống từ tháng năm 2016 đến nay. Trong thời gian chung sống, bà X và ông M có hai người con chung là: Đinh Thị Anh T, sinh ngày 02/4/2011 và Đinh Thị Quỳnh N, sinh ngày 30/11/2012. Tài sản chung: Tự thoả thuận. Nợ chung: Không có.

Nay bà X yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố S, tỉnh Sóc Trăng giải

quyết: Về quan hệ hôn nhân: Bà X yêu cầu được ly hôn với ông M. Về con chung: Bà X yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung là Đinh Thị Anh T, sinh ngày 02/4/2011 và Đinh Thị Quỳnh N, sinh ngày 30/11/2012 đến trưởng thành, không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi hai người con chung. Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản

tố tụng cho ông Đinh Sa M, nhưng ông M không có văn bản gửi cho Tòa án để trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của bà X, đồng thời ông M cũng không đến tham gia phiên hòa giải cũng như tham gia phiên tòa.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố S xác định:

Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật, tuy nhiên sự chấp hành pháp luật của bị đơn chưa đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Tòa án đã tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập xét xử đến lần thứ hai cho ông

Đinh Sa M, nhưng ông M vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông M.

Xét yêu cầu khởi kiện của bà Sơn Thị X, nhận thấy bà X và ông M tự

nguyện chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn số 73, quyển số 01/2011 ngày 13/6/2011. Quan hệ hôn nhân của bà X, ông M không vi phạm các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Nhưng sau một thời gian chung sống thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã, nguyên nhân chính là do tính tình không hoà hợp, vợ chồng không cùng chí hướng. Hiện bà X nhận thấy không còn tình cảm vợ chồng với ông M nên có nguyện vọng ly hôn. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Tòa án đã động viên bà X suy nghĩ lại, hàn gắn tình cảm vợ chồng với ông M, nhưng bà X vẫn cương quyết xin được ly hôn, từ đó cho thấy tình trạng hôn nhân giữa các bên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà X được ly hôn với ông M.

Về con chung: Trong thời gian chung sống, bà X và ông M có hai con

chung là: Đinh Thị Anh T, sinh ngày 02/4/2011 và Đinh Thị Quỳnh N, sinh ngày 30/11/2012. Bà X yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung đến khi trưởng thành, không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, cháu T và cháu N hiện đang chung sống với bà X, để đảm bảo

cho môi trường sống của hai cháu không bị xáo trộn, để các cháu phát triển bình thường về tâm, sinh lý, đồng thời cũng phù hợp với nguyện vọng của hai cháu là muốn được chung sống với mẹ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà X, giao hai con chung là Đinh Thị Anh T, sinh ngày 02/4/2011 và Đinh Thị Quỳnh N, sinh ngày 30/11/2012 cho bà X trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ hai cháu đủ 18 tuổi. Bà X hiện có việc làm, thu nhập ổn định, đảm bảo đủ điều kiện nuôi con, nên việc bà X không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tài sản chung: Bà X trình bày tự thoả thuận, không yêu cầu giải

quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về nợ chung: Bà X trình bày không có, không yêu cầu giải quyết, nên

Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Từ những phân tích nêu trên, xét yêu cầu của nguyên đơn, đề nghị của

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Án phí sơ thẩm: Bà X phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn theo quy

định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Khoản 3 Điều 36,

điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ vào điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Sơn Thị X.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Sơn Thị X được ly hôn với ông Đinh Sa M.

- Về con chung: Giao hai con chung là: Đinh Thị Anh T, sinh ngày

02/4/2011 và Đinh Thị Quỳnh N, sinh ngày 30/11/2012 cho bà Sơn Thị X trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi.

Ông Đinh Sa M không phải cấp dưỡng nuôi con chung là Đinh Thị Anh T

và Đinh Thị Quỳnh N.

Ông Đinh Sa M được quyền thăm nom con chung là Đinh Thị Anh T và

Đinh Thị Quỳnh N theo quy định của pháp luật.

- Về tài sản chung: Bà Sơn Thị X trình bày tự thoả thuận, không yêu cầu

giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

- Về nợ chung: Bà Sơn Thị X trình bày không có, không yêu cầu giải

quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

2/ Về án phí sơ thẩm: Bà Sơn Thị X phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm

nghìn đồng) án phí sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền ứng án phí bà X đã nộp 300.000 đồng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000340, ngày 10/3/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, bà Sơn Thị X đã thực hiện xong nghĩa vụ nộp án phí.

Ông Đinh Sa M không phải chịu án phí sơ thẩm.

3/ Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15

ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ, để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trong trường hợp bản án, quyết định đưsợc thi hành theo quy định tại

Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải Thi hành án có quyền thỏa thuận Thi hành án, quyền yêu cầu Thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ