vanban.org

Bản án 31/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị C được ly hôn anh Mã Quang C.

Về con chung: Giao cháu Mã Quang H - Sinh ngày 19/8/2016 cho chị Hoàng Thị C trực tiếp, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi. Anh Mã Quang C không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh Mã Quang C có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở. Về án phí: Chị H… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Thị C - Mã Quang C"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị C được ly hôn anh Mã Quang C.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LÀO CAI
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2022/HNGĐ-ST
Ngày 25/8/2022.
V/v: “Kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Kim Phượng

Các hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Ngân

Bà Vũ Thị Hòa

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Hoàng Thị Kim Anh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai.

Ngày 25/8/2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 65/2022/TLST - HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2022 về việc kiện “Ly hôn,tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2022/QĐXXST - HNGĐ ngày 03 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị C - Sinh năm 1998

Nơi ĐKHKTT: Tổ 21, phường P, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Mã Quang C - Sinh năm 1993

Nơi ĐKHKTT: Tổ 21, phường P, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

Hiện đang chấp hành hình phạt tù: Tại Trại giam Hồng Ca (Đội 28, thuộc phân trại số 2, xã H, huyện T, tỉnh Yên Bái). Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Hoàng Thị C trình bày:

Chị Hoàng Thị C và anh Mã Quang C đăng ký kết hôn vào ngày 23/9/2016 tại UBND phường B, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, luôn bất đồng nhau về quan điểm làm ăn kinh tế, anh C không chịu khó làm ăn còn chơi bời cờ bạc, không quan tâm đến vợ con. Từ đó thường xuyên xảy ra đánh cãi chửi nhau. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được hai bên gia đình và bạn bè hòa giải nhiều lần nhưng tình cảm vợ chồng không cải thiện được. Đến năm 2020 anh C phạm tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” bị Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai xử phạt 15 năm tù hiện đang chấp hành án tại Trại giam H tỉnh Yên Bái. Đến nay, chị Hoàng Thị C xác định tình cảm vợ chồng không còn hôn nhân không có hạnh phúc chị C đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai giải quyết cho chị C được ly hôn với anh Mã Quang C.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng chị Hoàng Thị C và anh Mã Quang C có 01 người con chung: Cháu Mã Quang H - Sinh ngày 19/8/2016. Khi ly hôn chị Hoàng Thị C có nguyện vọng xin được nuôi cháu H đến tuổi trưởng thành. Hàng tháng chị C không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Mức thu nhập bình quân của chị C là 7.000.000đồng/tháng. Hiện chị C đang bán hàng hoa quả tại chợ Cam Đường, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

Về tài sản: Chị Hoàng Thị C không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai anh Mã Quang C trình bày: Về thời gian, địa điểm kết hôn như chị Hoàng Thị C trình bày là đúng.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, luôn bất đồng nhau về quan điểm làm ăn kinh tế, trong cuộc sống anh C không quan tâm đến gia đình, không chịu khó làm ăn còn chơi bời cờ bạc. Vợ chồng không có tiếng nói chung, thiếu tôn trọng nhau. Từ đó thường xuyên xảy ra đánh cãi chửi nhau. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được hai bên gia đình và bạn bè hòa giải nhiều lần nhưng tình cảm vợ chồng không cải thiện được. Đến năm 2020 anh C phạm tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” bị Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai xử phạt 15 năm tù hiện đang chấp hành án tại Trại giam H tỉnh Yên Bái. Đến nay, anh Mã Quang C xác định tình cảm vợ chồng không còn hôn nhân không có hạnh phúc anh C đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai giải quyết cho anh C được ly hôn với chị Hoàng Thị C.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng anh Mã Quang C và chị Hoàng Thị C có 01 người con chung: Cháu Mã Quang H - Sinh ngày 19/8/2016. Khi ly hôn anh Mã Quang C có nguyện vọng xin được nuôi cháu H đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Hàng tháng không yêu cầu chị C phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Hiện nay anh Mã Quang C đang chấp hành hình phạt tù tại Trại giam H (Đội 28, thuộc phân trại số 2, xã H, huyện T, tỉnh Yên Bái) hàng tháng không có thu nhập gì.

Về tài sản: Anh Hoàng Văn C không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, nguyên đơn, bị đơn giữ nguyên yêu cầu và ý kiến của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng và áp dụng pháp luật: Chị Hoàng Thị C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” đối với anh Mã Quang C có hộ khẩu thường trú tại: Tổ 21, phường P, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Hiện đang chấp hành hình phạt tù tại Trại giam H (Đội 28, thuộc phân trại số 2, xã H, huyện T, tỉnh Yên Bái). Vì vậy, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự và áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình giải quyết về nội dung khởi kiện. Tại phiên tòa nguyên đơn, bị đơn vắng mặt, đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu khởi kiện:

Về hôn nhân: Chị Hoàng Thị C và anh Mã Quang C tự nguyện tìm hiểu yêu thương và kết hôn với nhau vào ngày 23/9/2016 có đăng ký kết hôn Ủy ban nhân dân phường B, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, luôn bất đồng nhau về quan điểm làm ăn kinh tế, trong cuộc sống hàng ngày anh C không quan tâm đến gia đình, không chịu khó làm ăn còn chơi bời cờ bạc.Vợ chồng không có tiếng nói chung, thiếu tôn trọng nhau. Từ đó thường xuyên xảy ra đánh cãi chửi nhau. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được hai bên gia đình và bạn bè hòa giải nhiều lần nhưng tình cảm vợ chồng không cải thiện được. Đến năm 2020 anh C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” bị Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai xử phạt 15 năm tù hiện đang chấp hành án tại Trại giam H tỉnh Yên Bái. Như vậy tình cảm vợ chồng giữa chị C và anh C đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hoàng Thị C đối với anh Mã Quang C.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng chị Hoàng Thị C và anh Mã Quang C có 01 người con chung: Cháu Mã Quang H - Sinh ngày 19/8/2016. Khi ly hôn cả chị C và anh C đều có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc cháu H cho đến khi trưởng thành. Xét việc giao nuôi con thì thấy anh Mã Quang C hiện đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam H, chị C có nguyện vọng xin được nuôi cháu H. Chị Hoàng Thị C hiện nay có mức thu nhập hàng tháng 7.000.000đồng/tháng. Hơn nữa cháu H độ tuổi của cháu còn nhỏ, cần sự chăm sóc của người mẹ hơn. Việc giao cháu H cho chị C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp hơn do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu Mã Quang H cho chị Hoàng Thị C là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Hoàng Thị C không có yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản: Anh chị không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Hoàng Thị C phải chịu 300.000đồng tiền án phí ly hôn.

Từ những nhận định trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị C được ly hôn anh Mã Quang C.

2.Về con chung: Giao cháu Mã Quang H - Sinh ngày 19/8/2016 cho chị Hoàng Thị C trực tiếp, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi. Anh Mã Quang C không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh Mã Quang C có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở.

3. Về án phí: Chị Hoàng Thị C phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu: AC – 21P số: 0001481 ngày 28/4/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Chị Hoàng Thị C đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ