vanban.org

Bản án 31/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho chị Triệu Thị Hải Y đƣợc ly hôn anh Nguyễn Văn K

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Minh K, sinh ngày 16/02/2017 cho anh Nguyễn Văn K trực tiếp nuôi dƣỡng chăm sóc giáo dục; giao cháu Nguyễn Minh N, sinh ngày 18/12/2019 cho chị Triệu Thị Hải Y trực tiếp nuôi dƣỡng chăm sóc giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Hai bên không phải có nghĩa vụ cấp d… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ Ly hôn giữa chị Triệu Thị Hải Y và anh Nguyễn Văn K"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Triệu Thị Hải Y đƣợc ly hôn anh Nguyễn Văn K
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỨ KỲ
TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31 /2022/HNGĐ-ST
Ngày: 07-9-2022
“V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Thành

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hồng và bà Vũ Thị Bền

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thanh Huyền - Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 72/2022/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2022 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 21B/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 25tháng7năm 2022giữa cácđƣơng sự:

- Nguyên đơn: Chị Triệu Thị Hải Y, sinh năm 1991; Địa chỉ: Khu 1, xã Sơn V, huyện Lâm T, tỉnh Phú Thọ.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1988; Địa chỉ: Thôn Hàm Cách, xã Hà Thanh, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.

Các đƣơng sự đều vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn xin ly hôn, biên bản lấy lời khai và các tài liệu khác có tại hồ sơ, nguyên đơn chị Triệu Thị Hải Y trình bày:

+ Về quan hệ hôn nhân: Chị Triệu Thị Hải Y và anh Nguyễn Văn K đƣợc tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 16/9/2016 tại UBND xã Hà Thanh, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng. Sau khi kết hôn, chị Y và anh K sống cùng bố mẹ anh K ở thôn Hàm Cách xã Hà Thanh huyện Tứ Kỳ. Vợ chồng hạnh phúc đƣợc khoảng hơn 4 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính cách không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, không thống nhất trong mọi công việc dẫn đến vợ chồng thƣờng xuyên cãi nhau. Từ tháng 4/2021, chị Y đã chuyển về nhà mẹ đẻ ở khu 1 xã Sơn Vi huyện Lâm Thao tỉnh Phú Thọ sinh sống. Vợ chồng chị Y và anh K ly thân từ đó đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị Y xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị đƣợc ly hôn với anh K.

+ Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân chị Y, anh K có 02 con chung là các cháu: Nguyễn Minh K, sinh ngày 16/02/2017; Nguyễn Minh N, sinh ngày 18/12/2019, hiện cháu Ngọc đang ở với chị Y, cháu Khang đang ở với anh K. Khi ly hôn chị Y có nguyện vọng đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Ngọc; giao cháu Khang cho anh K trực tiếp nuôi dƣỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh chị không ai phải cấp dƣỡng nuôi con cho ai. Chị Y hiện làm công nhân cho công ty nƣớc ngoài, có thu nhập ổn định, chị và cháu Ngọc sống cùng bố mẹ chị và đƣợc bố mẹ hỗ trợ trong việc nuôi con nên chị xác định chị có đủ điều kiện để nuôi con.

+ Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại biên bản lấy lời khai đối với ông Nguyễn Văn Quỳnh là bố đẻ anh Nguyễn Văn K thể hiện:

Chị Y và anh K đƣợc tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Hà Thanh vào ngày 16/9/2016. Sau khi kết hôn, anh chị sống cùng ông Quỳnh tại thôn Hàm Cách, xã Hà Thanh, cuộc sống vợ chồng anh chị có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, không thống nhất đƣợc với nhau trong mọi việc dẫn đến thƣờng xuyên to tiếng, cãi chủi nhau. Do mẫu thuẫn vợ chồng không đƣợc khắc phục nên khoảng giữa năm 2021 chị Y bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Từ đó đến nay anh chị sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Nay chị Y đề nghị Tòa án giải quyết cho chị đƣợc ly hôn anh K thì đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

+ Về con chung: chị Y, anh K có 02 con chung là các cháu: Nguyễn Minh K, sinh ngày 16/02/2017; Nguyễn Minh N, sinh ngày 18/12/2019, hiện cháu Ngọc đang ở với chị Y, cháu Khang đang ở với anh K. Khi ly hôn anh K có nguyện vọng đƣợc tiếp tục nuôi dƣỡng cháu Khang còn chị Y nuôi dƣỡng cháu Ngọc, không ai phải cấp dƣỡng nuôi con cho ai.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại biên bản xác minh với UBND xã Hà Thanh thể hiện:

Chị Y và anh K có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã vào ngày 16/9/2016. Sau khi kết hôn anh chị sinh sống tại thôn Hàm Cách, xã Hà Thanh. Về nguyên nhân mâu thuẫn giữa anh chị thì UBND xã không nắm đƣợc vì anh chị chƣa lần nào có đơn đề nghị UBND xã hòa giải, UBND chỉ nắm đƣợc từ giữa năm 2021 chị Y bỏ về sinh sống cùng bố mẹ đẻ tại tỉnh Phú Thọ còn anh K vẫn sinh sống tại thôn Hàm Cách, xã Thanh. Nay chị Y có đơn xin ly hôn anh K thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về còn chung, chị Y và anh K có 02 con chung là Nguyễn Minh K và Nguyễn Minh N, cháu Kháng hiện đang sống cùng anh K còn cháu Ngọc ở cùng chị Y. Anh K hiện đang làm công nhân tại Công ty GFT ở xã Cộng Lạc, huyện Tứ Kỳ có thu nhập và có nơi ở ổn định, đủ điều kiện nuôi con. Khi anh chị ly hôn, về con chung đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Tại phiên toà, chị Y có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên quan điểm đã trình bày. Anh K đã đƣợc Tòa án triệu tập hai lần hợp lệ nhƣng vắng mặt không có lý do.

Đại diện VKSND huyện Tứ Kỳ tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thƣ ký phiên tòa và của những ngƣời tham gia tố tụng đến trƣớc thời điểm HĐXX nghị án và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị Quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, giải quyết vụ án nhƣ sau: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Triệu Thị Hải Y về việc xin ly hôn với anh Nguyễn Văn K. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Minh K, sinh ngày 16/02/2017 cho anh Nguyễn Văn K trực tiếp nuôi dƣỡng chăm sóc giáo dục; giao cháu Nguyễn Minh N, sinh ngày 18/12/2019 cho chị Triệu Thị Hải Y trực tiếp nuôi dƣỡng chăm sóc giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Hai bên không phải có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con chung lẫn nhau.Về tài sản chung, công nợ: Chị Y không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết. Chị Y phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Chị Triệu Thị Hải Y có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa chị và anh Nguyễn Văn K, tại thời điểm thụ lý vụ án anh K sinh sống tại thôn Hàm Cách, xã Hà Thanh, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng. Do đó TAND huyện Tứ Kỳ thụ lý để giải quyết là đúng về thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.

Chị Triệu Thị Hải Y sau khi nhận đƣợc Quyết định đƣa vụ án ra xét xử có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, anh K đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhƣng vắng mặt không có lý do. Do đó Tòa án xét xử vắng mặt chị Y, anh K theo quy định tại khoản 1 Điều 228 BLTTDS.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Triệu Thị Hải Y và anh Nguyễn Văn K đƣợc tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 16/9/2013 tại UBND xã Hà Thanh, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng nên đƣợc công nhận là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đƣợc khoảng 04 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, không hòa hợp nhau về tính cách, không có tiếng nói chung, vợ chồng thƣờng xuyên cãi nhau, anh chị sống ly thân từ tháng 4/2021, không ai quan tâm đến ai. Chị Y có đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị đƣợc ly hôn anh K. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã gửi các văn bản tố tụng cho ông Nguyễn Văn Quỳnh là bố đẻ và sống cùng anh K, tại các biên bản lấy lời khai của ông Quỳnh thể hiện sau khi nhận các văn bản của Tòa án ông đều giao trực tiếp cho anh K, anh K đã biết đƣợc yêu cầu khởi kiện của chị Y nhƣng anh K không đến Tòa án để trình bày quan điểm, thể hiện anh K không còn muốn tiếp tục cuộc sống vợ chồng với chị Y. Nhƣ vậy, có cơ sở xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Y và anh K đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài nên cần chấp nhận yêu cầu của chị Y, xử cho chị Y đƣợc ly hôn anh K là phù hợp quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân chị Y, anh K có 02 con chung là các cháu: Nguyễn Minh K, sinh ngày 16/02/2017; Nguyễn Minh N, sinh ngày 18/12/2019, hiện cháu Ngọc đang ở với chị Y, cháu Khang đang ở với anh K. Xét thấy, cháu Ngọc chƣa đủ 36 tháng tuổi, từ tháng 4/2021 khi chị Y bỏ về nhà mẹ đẻ ở tỉnh Phú Thọ sinh sống thì chị Y đã đƣa cháu Ngọc về cùng sống với chị và cũng kể từ thời điểm đó, cháu Khang là do anh K trực tiếp nuôi dƣỡng chăm sóc giáo dục, hiện cả 2 cháu đều khỏe mạnh và cả hai anh chị đều có đủ điều kiện để trực tiếp nuôi dƣỡng chăm sóc con chung. Do vậy, cần tiếp tục giao cháu Ngọc cho chị Y trực tiếp nuôi dƣỡng chăm sóc giáo dục, giao cháu Khang cho anh K trực tiếp nuôi dƣỡng chăm sóc giáo dục, không ai phải cấp dƣỡng nuôi con cho ai là phù hợp quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung, công nợ: Chị Y, anh K không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết trong vụ án.

Về án phí: Chị Triệu Thị Hải Y khởi kiện vụ án hôn nhân gia đình nên phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội về ...án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội về ... án phí và lệ phí Toà án.

1. Về hôn nhân: Xử cho chị Triệu Thị Hải Y đƣợc ly hôn anh Nguyễn Văn K

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Minh K, sinh ngày 16/02/2017 cho anh Nguyễn Văn K trực tiếp nuôi dƣỡng chăm sóc giáo dục; giao cháu Nguyễn Minh N, sinh ngày 18/12/2019 cho chị Triệu Thị Hải Y trực tiếp nuôi dƣỡng chăm sóc giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Hai bên không phải có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con chung lẫn nhau

Chị Triệu Thị Hải Y và anh Nguyễn Văn K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai đƣợc cản trở.

3. Về án phí: Chị Triệu Thị Hải Y phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm (Hôn nhân gia đình) đƣợc đối trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2020/0004444 ngày 25/4/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng. Chị Y đã nộp đủ

4. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai , báo cho chị Triệu Thị Hải Y và anh Nguyễn Văn K biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ