vanban.org

Bản án 31/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Hồ Quốc B. Quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ thời điểm Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án về ly hôn, tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NÔNG SƠN
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2022/HNGĐ - ST
Ngày 30/8/2022
Về: Ly hôn, tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG SƠN, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Phúc

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Kim Đắc.

Bà Trần Thị Thu Hà

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Danh -Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Sơn tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2022, tại Tòa án nhân dân huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 28/2022/TLST-HNGĐ ngày 15/6/2022 về Ly hôn, tranh chấp nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2022/QĐXXST - HNGĐ, ngày 01/8/2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1984;

- Bị đơn: Anh Hồ Quốc B, sinh năm 1982;

Cùng có địa chỉ: Thôn LT, xã QL, huyện Nông Sơn, Quảng Nam.

Chị Nguyễn Thị N có mặt, anh Hồ Quốc B vắng mặt tại phiên tòa không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 06/6/2022, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N và anh Hồ Quốc B chung sống vợ chồng, tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 06/4/2010 tại UBND xã QL, huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam. Trong quá trình chung sống, vợ chồng có nhiều mâu thuẩn không tự giải quyết được. Nguyên nhân do anh B thường xuyên uống rượu, cờ bạc, có hành vi bạo lực gia đình và không quan tâm đến vợ con; năm 2021, chị N nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nhưng vì thương con nên chị đã rút đơn để vợ chồng tiếp tục chung sống đoàn tụ. Tuy nhiên, anh B vẫn không thay đổi, khiến mâu thuẩn vợ chồng càng thêm trầm trọng. Nay, chị N thấy tình cảm vợ chồng không còn và không thể tiếp tục chung sống được với anh B nên yêu cầu Tòa án giải quyết để chị được ly hôn anh Hồ Quốc B.

- Về con chung: Chị Nguyễn Thị N và anh Hồ Quốc B có hai con chung: Hồ Khánh N, sinh ngày 14/01/2011 và Hồ Khánh N1, sinh ngày 26/8/2014; các cháu hiện nay đang đi học và sống cùng với vợ chồng chị N, anh B tại thôn LT, xã QL, huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam. Tại phiên tòa, chị N tiếp tục có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cả hai con và yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con với số tiền mỗi tháng là 1.000.000 đồng/cháu cho đến khi các cháu N, N1 thành niên.

- Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Chị N trình bày hiện nay vợ chồng chị không có các khoản nợ chung.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã ban hành nhiều văn bản tố tụng và giải thích, tống đạt các văn bản đó cho các đương sự. Tuy nhiên, anh Hồ Quốc B không hợp tác, cố tình trốn tránh và không đến Tòa án để trình bày lời khai; không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và các phiên hòa giải mặc dù đã được nhận hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định của pháp luật. Anh Hồ Quốc B vắng mặt tại các phiên tòa không có lý do chính đáng và cũng không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Theo trình bày của chị Nguyễn Thị N, anh Hồ Quốc B đăng ký hộ khẩu thường trú và hiện đang sinh sống cùng với chị và các con tại thôn LT, xã QL, huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam. Anh B hiện đang làm công nhân tại Công ty Cổ phần Than - Điện Nông Sơn; thời gian gần đây, anh B đi làm ca 3 (từ 22 giờ ngày hôm trước đến khoảng 06 giờ ngày hôm sau). Khi không làm việc tại công ty, anh B làm xưởng gỗ của gia đình tại nhà, đôi lúc đi mua gỗ, lấy hàng nên không thường xuyên có mặt tại nhà.

Tại các biên bản ghi lời khai ngày 01/7/2022, các cháu Hồ Khánh N và Hồ Khánh N1 đều có nguyện vọng được sống cùng với chị Nguyễn Thị N trong trường hợp chị N và anh B ly hôn. Các cháu N, N1 thống nhất với đề nghị của chị N về việc yêu cầu anh B cấp dưỡng để nuôi các cháu đến khi thành niên, với số tiền 1.000.000 đồng/tháng cho mỗi cháu.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Sơn phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhận toàn bộ yêu cầu của chị Nguyễn Thị N về việc ly hôn anh B; về con chung, đề nghị giao con chung là Hồ Khánh N, sinh ngày 14/01/2011 và Hồ Khánh N1, sinh ngày 26/8/2014 cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi các cháu thành niên; buộc anh B có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chung theo yêu cầu của chị N. Về tài sản chung và nợ chung, chị N không yêu cầu giải quyết nên không đề nghị xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về tố tụng:

1.1. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thị N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp nuôi con với anh Hồ Quốc B, sinh năm 1982, trú tại thôn LT, xã QL, huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng Dân sự. Theo đó, căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án nhân dân huyện Nông sơn, tỉnh Quảng Nam thụ lý, giải quyết vụ án là đúng quy định của pháp luật tố tụng về thẩm quyền.

1.2. Về việc giải quyết, xét xử vắng mặt đương sự: Anh Hồ Quốc B đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án nhưng không hợp tác; không tham gia các phiên họp, phiên hòa giải để Tòa án hòa giải đoàn tụ nên Tòa án căn cứ các quy định của pháp luật tố tụng để xem xét, giải quyết vụ án theo thủ tục chung. Tại phiên tòa, anh B vắng mặt lần thứ hai nhưng không có lý do và không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, do đó Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt anh Hồ Quốc B.

2. Về nội dung vụ án:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N và anh Hồ Quốc B chung sống vợ chồng, có đăng ký kết hôn vào ngày 06/4/2010 tại UBND xã QL, huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam; theo chị N, việc chung sống và đăng ký kết hôn của họ là tự nguyện, không bị lừa dối, ép buộc, không vi phạm điều kiện kết hôn và không thuộc trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các Điều 9,10 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000. Từ đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh B là hợp pháp.

Trong quá trình chung sống, vợ chồng có nhiều mâu thuẩn, đã được Tòa án xem xét giải quyết đoàn tụ một lần, nhưng mâu thuẩn vợ chồng vẫn không giải quyết được, hiện tại vợ chồng không còn chung sống với nhau. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẩn vợ chồng là do anh B thường hay uống rượu, không quan tâm, chăm sóc gia đình và nhiều lần đánh đập chị N. Điều đó làm ảnh hưởng đến tình nghĩa vợ chồng, đến việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, trong đó có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị N kiên quyết xin ly hôn anh B. Xét thấy tình trạng hôn nhân của chị N và anh B là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được và đời sống chung không thể kéo dài nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu của chị N về quan hệ hôn nhân để chị N được ly hôn anh B.

2.2. Về con chung:

- Về người trực tiếp nuôi con:

Khi ly hôn, chị Nguyễn Thị N có nguyện vọng được nuôi cả 02 con gồm: Hồ Khánh N, sinh ngày 14/01/2011 và Hồ Khánh N1, sinh ngày 26/8/2014. Xét thấy các cháu N1 và N đều là cháu gái, đang trong giai đoạn phát triển, hoàn thiện về thể chất, nhận thức, tâm sinh lý và các cháu cũng có nguyện vọng được tiếp tục chung sống cùng với mẹ khi ba và mẹ cháu ly hôn; tại thời điểm giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thị N không bị hạn chế quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung theo quy định pháp luật nên cần giao cả 02 cháu cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu thành niên nhằm đảm bảo sự phát triển tốt nhất về thể chất, nhận thức, tâm sinh lý và tình cảm giữa các cháu; phù hợp với nguyện vọng của các cháu N1, N trong quá trình giải quyết vụ án.

- Về cấp dưỡng cho con:

Về quyền yêu cầu cấp dưỡng: Chị Nguyễn Thị N được quyền trực tiếp nuôi cả hai con, như đã phân tích, là phù hợp. Do đó, khi trực tiếp nuôi các con, chị N yêu cầu anh B cấp dưỡng cho con là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình. Anh B vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nên các đương sự không thỏa thuận được với nhau về mức cấp dưỡng nên Tòa án xem xét, quyết định mức cấp dưỡng cho con theo quy định pháp luật trên cơ sở nhu cầu thiết yếu của các con; thu nhập và khả năng cấp dưỡng thực tế của anh Hồ Quốc B.

Xét nhu cầu thiết yếu của các cháu thì thấy rằng: Các cháu Hồ Khánh N1 và Hồ Khánh N đang trong giai đoạn phát triển về thể chất, tâm thần; có các nhu cầu sinh hoạt thông thường về ăn, mặc, ở, học tập, khám chữa bệnh và các nhu cầu sinh hoạt thông thường khác phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, phong tục, tập quán tại địa phương. Điều đó làm phát sinh chi phí thực tế trong quá trình nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục các cháu.

Xét khả năng cấp dưỡng thực tế của anh Hồ Quốc B thì thấy: Anh B làm công nhân tại Công ty Cổ phần than điện Nông Sơn, tại huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam và làm các công việc lao động phổ thông khác tại địa phương nên được xác định là lao động có thu nhập và có khả năng thực tế cho việc cấp dưỡng. Vì vậy, anh B phải có nghĩa vụ trích một phần thu nhập để cấp dưỡng cho các con, phần còn lại để duy trì cuộc sống, khả năng lao động và đảm bảo các nhu cầu thiết yếu khác của anh B là phù hợp.

Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc anh Hồ Quốc B có nghĩa vụ cấp dưỡng cho các con với mức cấp dưỡng không vượt quá mức cấp dưỡng mà chị N yêu cầu là phù hợp với các quy định pháp luật về cấp dưỡng, phù hợp với khả năng cấp dưỡng thực tế của anh B nhằm đáp ứng một phần chi phí cho nhu cầu thiết yếu của các cháu N và N1; để cùng với sự chăm sóc, nuôi dưỡng của chị N, tạo sự phát triển, hoàn thiện tốt hơn về thể chất, tinh thần của các cháu.

2.3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị N không yêu cầu xem xét, phân chia tài sản chung của vợ chồng và trình bày hiện nay vợ chồng không có các khoản nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

3. Về án phí: Các đương sự có nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84, 107, 110 và 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, các Điều 35, 39, 147, 227, 228, 235, 264, 266 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Hồ Quốc B. Quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ thời điểm Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung:

- Về người trực tiếp nuôi con: Chị Nguyễn Thị N được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục các cháu Hồ Khánh N, sinh ngày 14/01/2011 và Hồ Khánh N1, sinh ngày 26/8/2014 cho đến khi các cháu thành niên.

- Về cấp dưỡng cho con: Anh Hồ Quốc B có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con để chị Nguyễn Thị N nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Hồ Khánh N và Hồ Khánh N1, với mức cấp dưỡng cụ thể như sau:

Cấp dưỡng cho cháu Hồ Khánh N với số tiền mỗi tháng là 1.000.000 đồng;

Cấp dưỡng cho cháu Hồ Khánh N1 với số tiền mỗi tháng là 1.000.000 đồng;

Thời gian cấp dưỡng kể từ thời điểm Bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi các cháu N, N1 thành niên.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong số tiền cấp dưỡng nói trên, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chưa thành niên được thực hiện theo quy định tại các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

Tòa án có thể xem xét, quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật, nếu có yêu cầu.

3. Về Án phí:

- Chị Nguyễn Thị N có nghĩa vụ chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí mà chị N đã nộp, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003053, ngày 15/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam.

- Anh Hồ Quốc B có nghĩa vụ chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ