- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H B Bkrông.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ KUIN TỈNH ĐẮK LẮK —————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31 /2022/HNGĐ-ST Ngày 19 - 8 -2022 V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ KUIN, TỈNH ĐẮK LẮK.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quốc Định.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Hồng Khanh.
Bà Hoàng Thị Trang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Loan – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Kuin tham gia phiên tòa: Ông Trương Quang Thành – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 70/2022/TLST-HNGĐ ngày 01/4/2022 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà H B Bkrông, sinh năm 1990.
Địa chỉ: Buôn C, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
(Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
* Bị đơn: Ông Y T Ênuôl, sinh năm 1979;
Địa: Buôn C, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
(Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà H B Bkrông trình bày:
Bà H B Bkrông (nguyên đơn) và ông Y T Ênuôl (bị đơn) kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 12/5/2008. Sau khi kết hôn vợ chồng cung sống hạnh phúc được một thời gian và có một con chung, đến 2010 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do nguyên đơn đi làm ở quán cà phê nên bị đơn hay ghen tuông vô cớ, rồi lấy nhiều lý do khác để hành hạ đánh đập nguyên đơn nhiều lần làm cho hạnh gia đình không có. Nguyên đơn đã cố gắng chịu đựng và cũng nhờ gia đình nội ngoại hai bên can thiệp, hòa giải nhưng mâu thuẫn vợ chồng vẫn không thể khắc phục được. Đến năm 2018 thì nguyên đơn và bị đơn sống ly thân với nhau từ đó cho đến nay, không còn quan tâm gì đến nhau. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bị đơn.
Về con chung: Quá trình chung sống nguyên đơn với bị đơn có 01 con chung là cháu H L Bkrông, sinh ngày 11/7/2008 hiện nay đang ở với nguyên đơn. Sau khi ly hôn nguyên đơn có nguyện vọng muốn được trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc con chung cho đến khi đủ tuổi thành niên, về cấp dưỡng nuôi con nguyên đơn không yêu cầu giải quyết. Hiện nay nguyên đơn đang làm công nhân ở Công ty cà phê Ng tại thôn L, xã D, huyện K, có mức thu nhập ổn định mỗi tháng là 6.000.000 đồng nên có đủ điều kiện để nuôi con chung.
Về tài sản và nợ chung không có nên nguyên đơn không yêu cầu giải quyết.
Theo các lời khai trong quá trình giải quyết vu án bị đơn là ông Y T Ênuôl trình bày:
Ông Y Tlua (bị đơn) với bà H B Bkrông (nguyên đơn) kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã E, huyện K vào ngày 12/5/2008. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian và có 01 người con chung. Đến năm 2017 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do nguyên đơn có quan hệ ngoại tình với ông Y H Ênuôl là người cùng buôn, sự việc đã được ban tự quản buôn giải quyết và nguyên đơn hứa sẽ không tái phạm, sau đó vợ chồng đoàn tụ và về tiếp tục sống chung với nhau được một thời gian thì nguyên đơn vẫn chứng nào tật đó vẫn thường hay gọi điện thoại, nhắn tin và hẹn hò với ông Y H Ênuôl nhiều lần và bị bị đơn phát hiện nên vợ chồng thường xuyên xay ra cải vã, xô sát nhau làm cho mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng hơn. Đến năm 2018 nguyên đơn đã bỏ chồng con đi làm công nhân ở thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2018, vợ chồng không còn quan tâm liên lạc gì đến nhau. Đến tháng 02 năm 2022 nguyên đơn mới về địa phương nhưng không về nhà mà ở nhờ nhà người quen rồi viết đơn xin ly hôn với bị đơn. Nay nguyên đơn yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn thì bị đơn không đồng ý vì nguyên nhân mâu thuẫn gia đình là do nguyên đơn tự gây ra, bị đơn không có lỗi gì, còn các lý do mà nguyên đơn làm căn cứ để xin ly hôn với bị đơn là không có.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu H L Bkrông, sinh ngày 11/7/2008 hiện nay đang ở với nguyên đơn. Trong trường hợp vợ chồng ly hôn với nhau thì bị đơn có nguyện vọng được nuôi con chung cho đến khi đủ tuổi thành niên và không yêu cầu nguyên đơn phải cấp dưỡng nuôi con chung. Bị đơn không có nghề nghiệp và cũng không có ruộng rẫy gì, chỉ có 03 sào đất của bố mẹ vợ cho để làm nhà ở, thu nhập chính của bị đơn là đi làm thuê cho người khác để lấy tiền tiêu sài, mỗi ngày làm thuê được 200.000 đồng nhưng làm không đủ tháng, có ngày làm có ngày nghỉ.
Về tài sản và nợ chung: Bị đơn không yêu cầu giải quyết.
Tại biên bản lấy ý kiến của con chưa thành niên ngày 25/5/2022, cháu H L Bkrông là con chung của nguyên đơn và bị đơn trình bày ý kiến muốn ở với mẹ sau khi bố mẹ ly hôn với nhau.
Theo biên bản xác minh tại chính quyền địa phương nơi nguyên đơn và bị đơn sinh sống, xác định tình trạng hôn nhân và nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn giữa nguyên đơn và bị đơn là có thật. Nay nguyên đơn làm đơn yêu cầu giải quyết ly hôn với bị đơn thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của Kiểm sát viên phát biểu tại phiên toà: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật tố tụng, bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc ly hôn với bị đơn. Về con chung giao cháu H L Bkrông cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cho đến khi đủ tuổi thành niên. Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản và nợ chung đương sự không yêu cầu nên không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và việc nuôi con chung với bị đơn nên đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Do bị đơn có địa chỉ nơi cư trú tại buôn C, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin. Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được thông báo hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để thụ lý, giải quyết và xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn và bị đơn là đúng với quy định của pháp luật.
Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn và bị đơn xác lập quan hệ hôn nhân với nhau trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều kiện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 12/5/2008 nên quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn là hợp pháp và được pháp luật công nhận. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống giữa nguyên đơn và bị đơn thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không tin tưởng lẫn nhau trong chuyện tình cảm, dẫn đến thường hay xảy ra cải vả, xô sát nhau. Mâu thuẫn vợ chồng kéo dài nhưng không thể hàn gắn được mà ngày càng trầm trọng hơn. Đến năm 2018 thì nguyên đơn và bị đơn đã sống ly thân với nhau từ đó cho đến nay, không còn quan tâm gì đến nhau. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn đã vi phạm nghiêm trọng về quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc xin ly hôn với bị đơn.
Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Quá trình chung sống nguyên đơn với bị đơn có 01 người con chung là cháu H L Bkrông, sinh ngày 11/7/2008 hiện nay đang ở với nguyên đơn. Xét điều kiện hoàn cảnh của nguyên đơn hiện nay đã có công việc làm và thu nhập ổn định, trong khi bị đơn không có việc làm, thu nhập thất thường và theo nguyện vọng của cháu H L Bkrông là muốn ở với nguyên đơn khi bố mẹ ly hôn với nhau. Vì vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu H L Bkrông cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cho đến khi đủ tuổi thành niên. Về cấp dưỡng nuôi con chung nguyên đơn không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên toà về việc giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 144, 147, 227, 228 235, 266 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 56, các Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H B Bkrông.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà H B Bkrông được ly hôn với ông Y T Ênuôl.
2. Về con chung: Giao cháu H L Bkrông, sinh ngày 11/7/2008 cho bà H B Bkrông trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom và chăm sóc cho đến khi đủ tuổi thành niên.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Đương sự không yêu cầu nêu không giải quyết.
4. Về tài sản và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không giải quyết.
5. Về án phí: Bà H B Bkrông phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 60AA/2021/0002172 ngày 23/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk.
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND huyện Cư Kuin; - Chi cục THADS huyện K; - Các đương sự; - UBND xã E; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Quốc Định |