- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Võ Thị Ngọc S xin ly hôn với ông Nguyễn Văn T"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 Về việc thi hành Luật Hôn nhân…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2022/HNGĐ-ST Ngày: 09/5/2022 “V/v ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Bùi Văn Bảnh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Hoa
Bà Đoàn Thị Huệ
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Ý - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 200/2021/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2021 về "ly hôn".
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Võ Thị Ngọc S, sinh năm 1967
Địa chỉ: ấp M, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1966
Địa chỉ: ấp M, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Võ Thị Ngọc S trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông T chung sống với nhau từ năm 1984, có tổ chức đám cưới theo phong tục nhưng không có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống trước đây vợ chồng không có mâu thuẫn gì lớn, từ năm 2012 ông T có người phụ nữ khác, ít khi ở nhà, không quan tâm đến vợ con, gia đình khuyên ngăn nhưng không có kết quả, ông T vẫn thản nhiên qua lại, sống chung với người phụ nữ khác. Vì muốn nuôi dạy các con nên bà im lặng, chấp nhận và chờ ông T thay đổi, tuy nhiên từ đó đến nay ông T vẫn không thay đổi. Hiện nay các con đã trưởng thành, tình cảm giữa bà và ông T đã không còn, không thể cùng nhau xây dựng gia đình, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà xin ly hôn với ông T.
Về con chung: Bà và ông T có 04 người con chung là Nguyễn Văn C, sinh năm 1985; Nguyễn Thị H, sinh năm 1987; Nguyễn Thị Cẩm T1, sinh năm 1995 và Nguyễn Thị Kiều T2, sinh năm 2001. Hiện nay các con đã thành niên, tự lao động sinh sống, bà không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà và ông T không có tài sản chung và nợ chung, không phát sinh tranh chấp, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
* Bị đơn ông Võ Văn T vắng mặt, không có lời trình bày.
Tại phiên tòa, nguyên đơn bà S giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với ông T, con đã thành niên, tự lao động sinh sống, tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa có ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, riêng bị đơn ông T vắng mặt tại phiên họp và phiên tòa lần thứ 2 mà không có lý do là chưa chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về hướng giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà S, con đã thành niên, tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông T vắng mặt, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng ông T vắng mặt lần thứ hai không có lý do là chưa chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông T.
[2] Về quan hệ hôn nhân, bà S và ông T chung sống với nhau từ năm 1984 trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức đám cưới theo phong tục, có con chung nhưng từ đó đến nay không có đăng ký kết hôn. Theo Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành luật Hôn nhân và gia đình, trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03/01/1987 mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn; trong trường hợp có yêu cầu ly hôn thì được Toà án thụ lý giải quyết theo quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Nguyên nhân dẫn đến ly hôn, bà S cho rằng từ năm 2012 ông T có người phụ nữ khác, không quan tâm đến vợ con, gia đình khuyên ngăn nhưng không có kết quả, ông T vẫn thản nhiên qua lại, sống chung với người phụ nữ khác. Hiện nay các con đã trưởng thành, tình cảm giữa bà và ông T đã không còn nên bà xin ly hôn với ông T để mỗi người có cuộc sống riêng. Còn ông T vắng mặt, không có ý kiến, không tham gia các phiên họp và phiên tòa sơ thẩm. Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình chung sống với nhau bà S và ông T có nhiều mâu thuẫn, quan hệ hôn nhân giữa bà S và ông T không đảm bảo theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về tình nghĩa vợ chồng, Hội đồng xét xử có căn cứ để cho rằng hôn nhân giữa ông bà lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Hơn nữa, trong thời gian dài ông bà không khắc phục được mâu thuẫn để vợ chồng tiếp tục chung sống nên không có khả năng đoàn tụ. Do đó, trong thảo luận nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận ý kiến đề xuất của Kiểm sát viên, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà S với ông T.
[4] Về con chung, bà S và ông T có 04 người con chung là Nguyễn Văn C, sinh năm 1985; Nguyễn Thị H, sinh năm 1987; Nguyễn Thị Cẩm T1, sinh năm 1995 và Nguyễn Thị Kiều T2, sinh năm 2001. Hiện nay các con đã thành niên, tự lao động sinh sống, bà S không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
[5] Về tài sản chung và nợ chung, bà S khai bà và ông T không có tài sản chung và nợ chung, không phát sinh tranh chấp, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí, nguyên đơn bà S phải chịu án phí ly hôn theo quy định là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 266, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình;
Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành luật Hôn nhân và gia đình;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Ngọc S được ly hôn với ông Nguyễn Văn T.
2. Về con chung: Bà S và ông T có 04 người con chung là Nguyễn Văn C, sinh năm 1985; Nguyễn Thị H, sinh năm 1987; Nguyễn Thị Cẩm T1, sinh năm 1995 và Nguyễn Thị Kiều T2, sinh năm 2001, hiện nay đã thành niên, tự lao động sinh sống, bà S không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà S khai bà và ông T không có tài sản chung và nợ chung, không phát sinh tranh chấp, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
4. Về án phí sơ thẩm: Bà S phải chịu án phí xin ly hôn là 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo lai thu số 0005071 ngày 27/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh.
5. Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện An Minh; - Chi cục THADS huyện An Minh; - UBND xã V; - Các đương sự; - Lưu HS + VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Chí Công Bùi Văn Bảnh |