- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Trần Xiếu K - Trần Văn M"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Xiếu K đối với ông Trần Văn M.
- Căn cứ chính? Điều 116 Bộ luật Dân sự; Điều 166 Bộ luật Dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2022/DS-ST Ngày 28 - 9 - 2022 V/v tranh chấp đòi tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Lệ Kiều
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Mậu Thìn
Bà Trịnh Tiểu Nhi
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Kiều Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Hồng Thu – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 27 và 28 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 13/2022/TLST-DS ngày 07 tháng 4 năm 2022 về việc tranh chấp đòi tài sản. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2022/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Xiếu K, sinh năm 1958.
Địa chỉ: Số 02/35 Deakin St VTC 3012, Australia.
Người đại diện theo ủy quyền bà K: Ông Lữ Minh T, sinh năm 1966. Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện H, tỉnh Bạc Liêu. (có mặt ngày 27/9/2022, vắng mặt khi tuyên án)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Tạ Nguyệt Thanh – Công ty luật hợp danh Tạ Nguyệt Thanh thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Bạc Liêu. Địa chỉ: Số 08, đường T, Phường 3, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. (vắng mặt)
2. Bị đơn: Ông Trần Văn M, sinh năm 1964. Địa chỉ: Ấp 25, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 01/02/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án ông Lữ Minh T là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Bà Trần Xiếu K và ông Trần Văn M là chị em ruột với nhau. Do muốn ông M có vốn làm ăn nên bà K đã cho ông M mượn 04 lượng 05 chỉ vàng 24k, loại 9999, khi cho mượn hai bên không làm biên nhận. Sau đó, ông M không có khả năng chi trả nên bán 05 công đất ruộng tọa lạc tại ấp 25, xã P, huyện G (nay thị xã G) tỉnh Bạc Liêu cho bà K trừ nợ và bà K cũng đồng ý, quy ra tiền thì bà K phải đưa thêm cho ông M 5.840.000 đồng. Thời điểm đó sổ đỏ đang thế chấp Ngân hàng, ông M hứa sẽ lấy sổ đỏ về sang tên và giao đất cho bà K. Nội dung việc thỏa thuận này hai bên có làm giấy xác nhận đề ngày 27/8/2003, có sự chứng kiến của bà Hồ Thị H và ông Trịnh Minh H1 và biên nhận đề ngày 28/8/2003.
Đến năm 2013 bà K xuất cảnh định cư tại Australia, đến nay bà K được biết ông M đã chuộc sổ đỏ về nhưng không đồng ý chuyển tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà K theo như thỏa thuận nêu trên. Bà K đã nhiều lần nhờ Ủy ban nhân dân xã Phòa giải nhưng không thành. Bà K xác định hiện tại bà K đang định cư nước ngoài không có nhu cầu sử dụng đất. Vì vậy, bà K khởi kiện yêu cầu ông Trần Văn M phải trả lại cho bà K 4,5 lượng vàng 24k loại 9999 và số tiền 5.840.000 đồng và không yêu cầu tính lãi.
Ngoài ra, bà K chỉ yêu cầu cá nhân ông M có trách nhiệm thanh toán cho bà K khoản nợ nêu trên, không yêu cầu vợ ông M hay cá nhân nào khác cùng có trách nhiệm thanh toán.
Đối với bị đơn ông Trần Văn M, sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông M không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu của nguyên đơn. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng cho ông M; ông M cũng không có mặt tham gia tố tụng tại Tòa án trong suốt quá trình giải quyết vụ án; ông M đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ nhưng không có mặt tại Tòa án, nên không có lời khai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án tới thời điểm này thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Quá trình giải quyết Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự và Viện kiểm sát đúng theo quy định. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.
Về nội dung vụ án: Qua phân tích, đánh giá tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Xiếu K đối với ông Trần Văn M. Buộc ông M trả cho bà K số vàng 4,5 lượng vàng 24k loại 9999 và số tiền 5.840.000 đồng. Về án phí: Ông M phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, nghe ý kiến trình bày của đương sự, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, sau khi thảo luận, nghị án; Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bà Trần Xiếu K khởi kiện yêu cầu ông Trần Văn M trả cho bà K 4,5 lượng vàng 24k loại 9999 và số tiền 5.840.000 đồng. Bà K có nơi cư trú tại Australia. Nên đây là tranh chấp về đòi tài sản và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu theo quy định tại khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự
Bị đơn ông Trần Văn M và bà Tạ Nguyệt Thanh là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người này theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn đều xác định chỉ khởi kiện yêu cầu cá nhân ông M có trách nhiệm tranh toán khoản nợ cho bà K, không yêu cầu vợ ông M hay bất kỳ cá nhân nào khác cùng có trách nhiệm với ông M thanh toán khoản nợ này. Xét thấy, đây là quyền quyết định việc khởi kiện của nguyên đơn và bị đơn cũng không có ý kiến liên quan đến nội dung này nên Hội đồng xét xử chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện của bà K theo quy định tại Khoản 1 Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Xét yêu cầu khởi kiện của bà Trần Xiếu K:
Bà K khởi kiện yêu cầu ông M trả cho bà số vàng 4,5 lượng vàng 24k loại 9999 và số tiền 5.840.000 đồng, chứng cứ chứng minh là giấy xác nhận ngày 27/8/2003 và Biên nhận đề ngày 27/8/2003 của ông Trần Văn M
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của bà K là ông T xác định yêu cầu Tòa án căn cứ giá vàng theo cửa hàng mua bán vàng tại Bạc Liêu. Ông T thống nhất giá vàng của Tiệm vàng Kim Tín tại Bạc Liêu ngày 27/9/2022 là 5.090.000 đồng/chỉ.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp và các tài liệu, chứng cứ do phía nguyên đơn cung cấp cho bị đơn ông Trần Văn M nhưng ông M không đồng ý nhận các văn bản của Tòa án với lý do là cấp xã, địa phương chưa mời giải quyết nên việc Tòa án nhân dân tỉnh giải quyết là không đúng, không đồng ý, mặc dù đã được giải thích nếu ông có ý kiến hay yêu cầu gì có quyền làm đơn hoặc trình bày tại Tòa án nhưng ông M vẫn không cung cấp tài liệu, chứng cứ cũng như không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chứng tỏ ông M đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử sẽ căn cứ tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và chứng cứ do Tòa án thu thập để giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Tại Giấy xác nhận ngày 27/8/2003 có nội dung: “Tôi tên: Trần Văn M có mượn vàng của bà: Trần Xiếu K tổng cộng 4 cây rưỡi vàng 24k nay tôi trả không nổi vậy tôi giao 05 công đất ở ấp 25, xã P, huyện G hiện nay của tôi, sổ đỏ giờ đang ở ngân hàng, tôi lấy sổ đỏ về tôi sẽ sang tên và giao đất cho bà: Trần Xiếu K nếu lời nói sai làm không đúng tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật” bên dưới có chữ ký ông M, bà Hồ Thị H và ông Trịnh Minh H1 là người chứng kiến.
Tại Biên nhận ngày 27/8/2003 có nội dung: “Tôi có mượn chế bảy số vàng 4 cây rưởi Bốn cây rưởi vàng 24k với số tiền 584000. năm triệu tám trăm bốn chục ngàn” bên dưới có chữ ký của ông Trần Văn M, bà Tiêu Thị Hoa H2, ông Trần Văn T1, người cho mượn tiền + vàng bà Trần Xiếu K và có chữ ký của ông Trịnh Minh H1.
Qua xác minh, tại biên bản lấy lời khai người làm chứng ngày 09/8/2022 bà Hồ Thị H xác định trước đây bà là hàng xóm của bà K và ông M, nhà bà K bán quán cà phê nên bà thường xuyên đến nhà bà K. Do đó, ngày 27/8/2003 bà có trực tiếp chứng kiến việc bà K và ông M thỏa thuận với nhau về việc bà K có cho ông M mượn vàng trước đó và ông M không có khả năng chi trả nên giao đất cho bà K để trừ nợ và bà K có đưa thêm cho M số tiền 5.840.000 đồng và bà có ký tên vào giấy xác nhận của ông M đề ngày 27/8/2003.
Tại biên bản lấy lời khai ông Trịnh Minh H1 ngày 09/8/2022 ông H1 xác định ông có xác nhận nội dung và ký vào giấy xác nhận ngày 27/8/2003 và Biên nhận đề ngày 27/8/2003 của ông Trần Văn M do thời điểm đó ông làm Phó khóm Chòm Xoài, phường Nhà Mát. Mặc dù, ông không trực tiếp chứng kiến việc thỏa thuận giao dịch giữa bà K với ông M, nhưng trước khi bà K làm biên nhận với ông M thì bà K có trình bày sự việc và nhờ ông ký tên người làm chứng, sau khi các bên ký tên, ngày hôm sau bà K đưa các văn bản nêu trên và nhờ ông ký, ông thấy giữa bà K và ông M là chị em ruột với nhau và thấy có ông M ký tên vào các biên nhận nên ông đồng ý ký tên với tư cách người làm chứng.
Hội đồng xét xử xét thấy, hai văn bản do bà K cung cấp thể hiện trước đó ông M có mượn của bà K với số lượng 4,5 lượng vàng 24k, ông M không có khả năng chi trả nên hai bên mới thỏa thuận cấn trừ đất ruộng tại huyện G và sau đó bà K có đưa thêm cho ông M số tiền 5.840.000 đồng, sự việc này có bà Hồ Thị H trực tiếp chứng kiến. Trong quá trình thực hiện thỏa thuận thì ông M không thực hiện đúng thỏa thuận không sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không giao đất cho bà K. Do ông M không thực hiện theo thỏa thuận và hiện nay bà K không có nhu cầu sử dụng đất nên yêu cầu ông M trả 4,5 lượng vàng 24k loại 9999 và số tiền 5.840.000 đồng là có căn cứ nên được chấp nhận.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đề nghị của Kiểm sát viên.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên bà Trần Xiếu K không phải chịu.
Ông Trần Văn M phải chịu án phí có giá ngạch là: 234.890.000 đồng x 5% = 11.744.500 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 116 và Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26, 27 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Xiếu K đối với ông Trần Văn M.
2. Buộc ông Trần Văn M trả cho bà Trần Xiếu K 04 (bốn) lượng 05 (năm) chỉ vàng 24K loại 9999 và số tiền 5.840.000 đồng (năm triệu tám trăm bốn mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Trần Xiếu K không phải nộp. Bà Trần Xiếu K đã nộp tạm ứng án phí 6.401.000 đồng (Sáu triệu bốn trăm lẻ một nghìn đồng) theo Biên lai thu số 0000147 ngày 05/4/2022 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bạc Liêu nên được hoàn lại.
Ông Trần Văn M phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 11.744.500 đồng.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Án xử công khai, đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TANDTCC tại TP. Hồ Chí Minh; - VKSND tỉnh Bạc Liêu; - Cục THADS tỉnh Bạc Liêu; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Lệ Kiều |