vanban.org

Bản án 31/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại C.

1. Buộc bị đơn bà Ngô Thị T và anh Ngô Văn Đ phải có trách nhiệm liên đới thanh toán cho nguyên đơn Ngân hàng thương mại C số tiền còn nợ gốc và lãi tính đến ngày 25/8/2022 là 50.769.703 đồng (Năm mươi triệu bảy trăm sáu mươi chín nghìn bảy trăm lẻ ba đồng), trong đó nợ gốc là: 45.476.101 đồng (Bốn … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại C.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂY HÒA
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2022/DS-ST
Ngày: 25/8/2022
V/v “Tranh chấp hợp vay tài
sản”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thúy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Tấn Nghị và ông Lê Thanh Tâm.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Thoang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.

Đại diện VKSND huyện Tây Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bưởi – Kiểm sát viên.

Ngày 25/8/2022 tại trụ sở TAND huyện Tây Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 71/2022/TLST- DS ngày 30 tháng 5 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2022/QĐXXST-DS ngày 20/7/2022; Quyết định hoãn phiên tòa số: 68/2022/QĐ-HPT ngày 08/8/2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại C.

Địa chỉ: 109 Trần Hưng Đạo, phường Cửa Nam, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.

Đại diện theo ủy quyền: Bà Phan Thị Thu Th, sinh năm 1994 - Nhân viên; Địa chỉ: 197 -199 đ, phường 5, thành phố T, tỉnh Phú Yên. (Theo giấy ủy quyền ngày 24/3/2022). Có mặt.

Bị đơn: Ngô Thị T, sinh năm 1979 và Ngô Văn Đ, sinh năm 1998;

Đồng địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Vào ngày 07/4/2021, bà Ngô Thị T và anh Ngô Văn Đ có ký hợp đồng tín dụng số HDTD60020210793 tại Ngân hàng thương mại C – chi nhánh Phú Yên. Số tiền vay là 50.000.000 đồng, phương thức cho vay từng lần, mục đích vay tiêu dùng, thời hạn vay 48 tháng (kể từ ngày 08/4/2021 đến ngày 07/4/2025), lãi suất cho vay 9,9%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi xuất trong hạn, phạt lãi chậm trả 10%/năm, phương thức trả là trả góp vốn và lãi hàng tháng, mục đích vay là tiêu dùng, hình thức vay là vay tín chấp. Kỳ trả nợ gốc được trả vào ngày 15 hàng tháng, trong vòng 48 tháng. Số tiền phải trả từ tháng 01 đến tháng 47 là 1.040.000 đồng/tháng, số tiền phải trả tháng thứ 48 là 1.120.000 đồng. Ngày trả nợ gốc đầu tiền 15/5/2021. Kỳ hạn trả lãi được trả vào ngày 15 hàng tháng và được tính trên dư nợ gốc ban đầu, ngày trả lãi đầu tiền là ngày 15/5/2021. Ngày trả nợ cuối cùng là 07/4/2025.

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà T, anh Đ chỉ mới trả được cho Ngân hàng thương mại C với số tiền vốn gốc là 4.523.895 đồng và tiền lãi là 623.836 đồng, sau đó không thực hiện trả như đã ký kết trong hợp đồng. Bà T, anh Đ đã vi phạm quy định về thanh toán tiền lãi và vốn vay cho Ngân hàng thương mại C theo điều 4 của hợp đồng tín dụng số HDTD60020210793 ngày 07/4/2021. Mặc dù Ngân hàng thương mại C đã nhiều lần đôn đốc và tạo điều kiện cho khách hàng trả nợ nhưng bà T, anh Đ vẫn không thực hiện việc thanh toán nợ vay cho Ngân hàng thương mại C.

Nay, Ngân hàng thương mại C yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà T, anh Đ trả cho Ngân hàng thương mại C tổng số tiền là 50.769.703 đồng (Năm mươi triệu bảy trăm sáu mươi chín nghìn bảy trăm lẻ ba đồng), trong đó nợ gốc là 45.476.101 đồng, tổng lãi tạm tính đến ngày 25/8/2022 là 5.293.602 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng kể từ ngày 26/8/2022 cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng thương mại C; Thanh toán 01 lần ngay sau khi bản án phát sinh hiệu lực pháp luật. Trường hợp bị đơn không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện không đầy đủ thì nguyên đơn được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự huyện Tây Hòa tỉnh Phú Yên có thẩm quyền thực hiện các quy định theo luật thi hành án dân sự.

Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng thương mại C không thay đổi lời trình bày, vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn bà Ngô Thị T, anh Ngô Văn Đ được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do và không gửi ý kiến bằng văn bản cho Tòa án nên không tiến hành hòa giải được.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Hòa tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử, Thẩm phán đã xác định đúng mối quan hệ tranh chấp, xác định đúng tư cách pháp lý của các đương sự, chấp hành đúng trình tự, thủ tục thu thập tài liệu, chứng cứ, thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thư ký cũng đã chấp hành đúng theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đương sự thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ pháp luật quy định.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 3; Điều 91; Điều 95 Luật Tổ chức tín dụng và Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà T, anh Đ trả cho nguyên đơn Ngân hàng thương mại C tổng số tiền là 50.769.703 đồng (Năm mươi triệu bảy trăm sáu mươi chín nghìn bảy trăm lẻ ba đồng), trong đó nợ gốc là 45.476.101 đồng, tổng lãi tạm tính đến ngày 25/8/2022 là 5.293.602 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng kể từ ngày 26/8/2022 cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng thương mại C;

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp: Ngân hàng thương mại C khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền gốc và lãi đã vay theo hợp đồng tín dụng số: HDTD60020210793 ngày 07/4/2021, mục đích vay là tiêu dùng nên đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

[1.2] Về thẩm quyền: Bị đơn bà T, anh Đ có nơi cư trú hiện nay tại: Thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.

[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Ngô Thị T và anh Ngô Văn Đ được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do và không gửi ý kiến bằng văn bản cho Tòa án. Tại phiên tòa bị đơn bà T, anh Đ vắng mặt nên Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt bị đơn bà T, anh Đ theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Căn cứ vào hợp đồng tín dụng và các chứng cứ có trong hồ sơ xác định được bà Ngô Thị T và anh Ngô Văn Đ có ký hợp đồng vay vốn tại Ngân hàng thương mại C theo hợp đồng sau:

Hợp đồng tín dụng số HDTD60020210793 ngày 07/4/2021 tại Ngân hàng thương mại C – chi nhánh Phú Yên. Số tiền vay là 50.000.000 đồng, phương thức cho vay từng lần, mục đích vay tiêu dùng, thời hạn vay 48 tháng (kể từ ngày 08/4/2021 đến gày 07/4/2025), lãi suất cho vay 9,9%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi xuất trong hạn, phạt lãi chậm trả 10%/năm, phương thức trả là trả góp vốn và lãi hàng tháng, mục đích vay là tiêu dùng, hình thức vay là vay tín chấp. Như vậy, việc giao kết hợp đồng tín dụng giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, nội dung thỏa thuận trong hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia ký kết hợp đồng.

[2.2] Quá trình thực hiện hợp đồng bà T, anh Đ đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi theo thoả thuận tại hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa hai bên. Mặc dù Ngân hàng thương mại C đã nhiều lần đôn đốc và tạo điều kiện cho khách hàng trả nợ nhưng bà T, anh Đ vẫn không thực hiện việc thanh toán nợ vay cho Ngân hàng thương mại C. Việc bà T, anh Đ không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc cho Ngân hàng thương mại C là vi phạm nội dung thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết. Do đó Ngân hàng thương mại C khởi kiện yêu cầu bà Ngô Thị T và anh Ngô Văn Đ phải thanh toán số nợ gốc còn lại là có căn cứ, cần chấp nhận và buộc bị đơn phải thanh toán số nợ gốc là: 45.476.101 đồng (Bốn mươi lăm triệu bốn trăm bảy mươi sáu nghìn một trăm lẻ một đồng).

[2.3] Đối với yêu cầu của nguyên đơn về tiền lãi: Nội dung thỏa thuận về lãi suất giữa nguyên đơn và bị đơn theo hợp đồng tín dụng đã ký kết là phù hợp với quy định về việc cho vay của các tổ chức tín dụng tại Điều 3, Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng, phù hợp với các quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự, do đó cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải thanh toán lãi suất chưa thanh toán tính đến ngày xét xử (ngày 25/8/2022 ) là 5.293.602 đồng (Năm triệu hai trăm chín mươi ba nghìn sáu trăm lẻ hai đồng). Bị đơn còn phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất quá hạn do các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng đã ký kết kể từ ngày 26/8/2022 cho đến khi trả xong nợ.

[3] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn bà T, anh Đ mỗi người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 5 % giá trị tài sản có tranh chấp là: 50.769.703 đồng x 5% : 2 = 1.269.000 đồng (Một triệu hai trăm sáu mươi chín nghìn đồng) (đã làm tròn) để sung quỹ nhà nước. Hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[4] Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Hòa tại phiên toà là có căn cứ và phù hợp với các quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 157; Điều 227, Điều 228, Điều 244; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 3; Điều 91; Điều 95 Luật Tổ chức tín dụng;

Căn cứ các Điều 357; Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự;

Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại C.

1.1. Buộc bị đơn bà Ngô Thị T và anh Ngô Văn Đ phải có trách nhiệm liên đới thanh toán cho nguyên đơn Ngân hàng thương mại C số tiền còn nợ gốc và lãi tính đến ngày 25/8/2022 là 50.769.703 đồng (Năm mươi triệu bảy trăm sáu mươi chín nghìn bảy trăm lẻ ba đồng), trong đó nợ gốc là: 45.476.101 đồng (Bốn mươi lăm triệu bốn trăm bay mươi sáu nghìn một trăm, lẻ một đồng), lãi là 5.293.602 đồng (Năm triệu hai trăm chín mươi ba nghìn sáu trăm lẻ hai đồng) về khoản tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

1.2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 26/8/2022) cho đến khi thi hành án xong, bà Ngô Thị T và anh Ngô Văn Đ còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất tại hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa Ngân hàng thương mại C với bà Ngô Thị T và anh Ngô Văn Đ cho đến khi trả xong nợ. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2. Về án phí: Bị đơn bà Ngô Thị T, anh Ngô Văn Đ mỗi người phải chịu 1.269.000 đồng (Một triệu hai trăm sáu mươi chín nghìn đồng) (đã làm tròn) án phí dân sự sơ thẩm về khoản tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Hoàn trả cho nguyên đơn Ngân hàng thương mại C 2.187.000 đồng (Hai triệu một trăm tám mươi bảy nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0002405 ngày 26/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.

Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ