vanban.org

Bản án 31/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S.

Buộc bị đơn bà Huỳnh Thị T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Kim T cùng có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền còn nợ tính đến ngày 09/8/2022 tổng cộng 58.704.285 đồng (vốn 34.239.500 đồng, lãi trong hạn 5.096.400 đồng, lãi quá hạn 19.368.385 đồng). B… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Hợp đồng tín dụng Ngân hàng S - Huỳnh Thị T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THẠNH TRỊ
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2022/DS-ST
Ngày: 09-8-2022
V/v tranh chấp hợp đồng tín
dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Nghiệp.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Văn Chính.

Ông Nguyễn Công Lý.

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Mỹ Anh, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Nguyệt Hân - Kiểm sát viên.

Trong ngày 09 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 24/2022/TLST-DS ngày 07 tháng 4 năm 2022 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2022/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) S.

Địa chỉ: Số X đường Nam Kỳ Khởi N, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1975 – Giám Đốc Ngân hàng TMCP S chi nhánh Sóc Trăng.

Địa chỉ: Số N Trần Hưng Đ, Phường M, thành phố Sóc T, tỉnh Sóc Trăng.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Tuấn Anh: Bà Đinh Thị Ái T – Trưởng Phòng PGD Thạnh P (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Số L, QLA, xã Thạnh P, huyện Mỹ X, tỉnh Sóc Trăng.

Theo văn bản ủy quyền ngày 01/3/2022.

- Bị đơn: Bà Huỳnh Thị T, sinh năm 1958 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp G, thị trấn Phú L, huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Huỳnh Kim T, sinh năm 1953 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp G, thị trấn Phú L, huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 01/3/2022 của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S (gọi tắt Ngân hàng), đơn xin xét xử vắng mặt của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Đinh Thị Ái T có lời trình bày:

Ngày 14/01/2021, Ngân hàng ký với bà Huỳnh Thị T Hợp đồng tín dụng số 00742 – 00572 cho bà T vay vốn 50.000.000 đồng để bổ sung vốn kinh doanh, lãi suất 30%/năm, trả nợ mỗi ngày, chia thành 181 kỳ trả, mỗi ngày trả 01 kỳ, số tiền trả mỗi kỳ 317.400 đồng, kỳ cuối 307.100 đồng. Từ khi vay bà T đã thanh toán vốn gốc 15.760.500 đồng và lãi 2.342.700 đồng. Ngày 13/3/2021 bà T vi phạm nghĩa vụ trả nợ để phát sinh nợ quá hạn. Ngân hàng nhiều lần thương lượng nhưng bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Tại đơn khởi kiện Ngân hàng có yêu cầu vợ chồng bà T và ông T trả số tiền còn nợ 51.471.191 đồng (vốn gốc 34.239.500 đồng, lãi trong hạn 5.096.400 đồng và lãi quá hạn 12.135.291 đồng). Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà T, ông T trả cho Ngân hàng tính đến ngày 09/8/2022 tổng cộng 58.704.285 đồng (vốn 34.239.500 đồng, lãi trong hạn 5.096.400 đồng, lãi quá hạn 19.368.385 đồng) và phải chịu lãi phát sinh cho đến khi trả dứt nợ.

Theo biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 13/5/2022 và tại Tòa án bị đơn bà Huỳnh Thị T trình bày:

Bà có vay của Ngân hàng thương mại cổ phần S – PGD Thạnh P số tiền 50.000.000 đồng vào ngày 14/01/2021 để làm vốn bán nước, sau khi vay thì đóng vốn, lãi đầy đủ nhưng kể từ tháng 03 năm 2021 bà bị bệnh và bùng dịch Covid 19 nên không làm ra tiền để trả nợ Ngân hàng nên đã ngưng đóng từ ngày 13/3/2021 đến nay. Bà thừa nhận còn nợ Ngân hàng số tiền tính đến ngày 09/8/2022 tổng cộng 58.704.285 đồng, do hoàn cảnh khó khăn nên xin trả dần số tiền còn nợ mỗi tháng trả 300.000 đồng đến khi dứt nợ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Kim T trình bày:

Thống nhất lời trình bày của vợ ông bà Huỳnh Thị T là đúng, ông đồng ý cùng vợ ông trả cho Ngân hàng số tiền còn nợ nhưng xin mỗi tháng trả 300.000 đồng đến khi dứt nợ.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa nêu quan điểm:

Từ khi thụ lý đến khi kết thúc phần tranh luận tại phiên tòa xét xử, Thẩm phán

- Chủ tọa phiên tòa, các thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ đúng với các quy định của pháp luật. Qua chứng cứ và kết quả tranh tụng tại Tòa có cơ sở xác định yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Quan hệ tranh chấp giữa các đương sự phát sinh từ hợp đồng dân sự giữa tổ chức tín dụng với cá nhân. Bị đơn có nơi cư trú tại ấp G, thị trấn Phú L, huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng; phiên tòa được mở lần thứ hai đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Theo các quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng, Hội đồng xét xử thống nhất xét xử vắng mặt đối với đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn.

Về nội dung: Các đương sự đều thừa nhận, thông qua Hợp đồng tín dụng số 00742 - 00572 và Giấy nhận nợ cùng ngày 14/01/2021, Ngân hàng thương mại cổ phần S đã giải ngân cho bà T vay số tiền vốn 50.000.000 đồng để làm vốn mua bán nước. Quá trình thực hiện hợp đồng bà T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo kỳ, không tiếp tục trả nợ theo thỏa thuận, để phát sinh nợ quá hạn, nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu vợ chồng bà T, ông T trả số tiền còn nợ tính đến ngày 09/8/2022 tổng cộng 58.704.285 đồng (vốn 34.239.500 đồng, lãi trong hạn 5.096.400 đồng, lãi quá hạn 19.368.385 đồng). Bà T thừa nhận số nợ nêu trên nhưng xin được trả dần. Căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh do các đương sự đều thừa nhận. Do ông T là chồng bà T, việc bà T vay nợ để mua bán nước, phục vụ lợi ích gia đình, tại phiên tòa ông T đồng ý cùng bà T trả nợ cho Ngân hàng. Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà T, ông T có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn tổng số tiền 58.704.285 đồng.

Về thời gian trả nợ: Bà T, ông T xin trả dần số tiền còn nợ mỗi tháng trả 300.000 đồng đến khi dứt nợ, nhưng không được nguyên đơn đồng ý, các bên không thỏa thuận được thời gian trả nợ. Xét yêu cầu của đương sự thuộc thẩm quyền giai đoạn thi hành án dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên được hoàn trả tiền tạm ứng án phí. Bà T, ông T là người cao tuổi thuộc đối tượng được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng; các Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S.

Buộc bị đơn bà Huỳnh Thị T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Kim T cùng có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền còn nợ tính đến ngày 09/8/2022 tổng cộng 58.704.285 đồng (vốn 34.239.500 đồng, lãi trong hạn 5.096.400 đồng, lãi quá hạn 19.368.385 đồng). Bà Huỳnh Thị T và ông Huỳnh Kim T còn phải chịu tiền lãi phát sinh kể từ ngày 10/8/2022 theo mức lãi suất đã thỏa thuận ghi trong Hợp đồng tín dụng số 00742 - 00572 và Giấy nhận nợ cùng ngày 14/01/2021 cho đến khi thanh toán xong nợ.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Hoàn trả cho nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.287.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0001279 ngày 06/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng. Bà Huỳnh Thị T và ông Huỳnh Kim T được miễn nộp án phí.

Đương sự có quyền kháng cáo đối với Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại Ủy ban nhân dân nơi đương sự cư trú để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ