vanban.org

Bản án 31/2021/HSST — Hình sự

TAND TP. Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi Tuyên án 27/04/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh Vương phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 21-11-2019 đến ngày 19-01-2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh Vương phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
T PHỐ QUẢNG NGÃI
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2021/HSST
Ngày 27 - 4 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN T PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI

T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Kim Ân.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Bình;

2. Bà Nguyễn Thị Anh Thư.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quí, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Thủy - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 23 và 27 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2021/TLST-HS ngày 09 tháng 3 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2021/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2021 đối với bị cáo:

Cao Anh T, sinh ngày 10 tháng 10 năm 1994; tại Quảng Ngãi.

Nơi cư trú: Thôn H, xã N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Nấu đường; trình độ học vấn: 1/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao V và bà Trần Thị M; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.

Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Cao Anh T: Ông Cao V, sinh năm 1954, bà Trần Thị M, sinh năm 1963 (là cha mẹ đẻ của bị cáo T).

Cùng nơi cư trú: Thôn H, xã N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; bà M có mặt, ông V vắng mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Cao Anh T: Ông Vy Quí V1, luật sư Thuộc Công ty Luật TNHH HK & Gia Luật, chi nhánh Quảng Ngãi; có mặt.

- Bị hại: Anh Huỳnh Tấn T1, sinh năm 1988, chị Ngô Thị H, sinh năm 1988.

Cùng nơi cư trú: Thôn H, xã N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt (có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ ngày 10 tháng 10 năm 2020, Cao Anh T nhìn thấy tiệm tạp hóa của anh Huỳnh Tấn T1, sinh năm 1988 ở thôn H, xã N, thành phố Q, cũng là nhà ở gần nhà Cao Anh T không có người trông coi nên T vào phòng khách nhà mình lấy 01 cái kìm bấm kẽm màu đen có vỏ bọc màu vàng xanh đi bộ đến bên hông trái nhà anh T1, dùng kìm bấm đứt các mắc xích của hàng rào lưới B40 đột nhập vào trong nhà đến chỗ tủ bán hàng lấy chìa khóa trên đầu tủ nhôm, mở hộc tủ nhôm lấy số tiền 350.000 đồng bỏ vào túi quần của mình. Tiếp đến T vào trong phòng ngủ, mở hộc tủ nhựa để quần áo thấy 01 cái túi xách nhỏ bên trong có số tiền 40.000.000đồng nên T lấy số tiền bỏ vào túi quần, còn túi xách bỏ lại rồi về nhà. Về đến nhà T lấy số tiền 350.000đồng bỏ vào ví của mình, số tiền 40.000.000đồng T bỏ vào bao nilon đem ra bên hông nhà đào hố chôn rồi lấp đất lại và lấy 01 viên ngói đặt lên trên để làm ký hiệu.

Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra mời Cao Anh T về trụ sở làm việc và Cao Anh T đã khai nhận hành vi trộm cắp của mình.

Quá trình điều tra, gia đình T cung cấp giấy chứng nhận sức khỏe của T do Bệnh viện tâm thần Quảng Ngãi kết luận T: “ Rối loạn nhân cách và hành vi do bệnh lý não tổn thương và rối loạn chức năng não + chậm phát triển tâm thần (Đây là rối loạn tâm thần nặng). Nên ngày 30/11/2020 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an T phố Quảng Ngãi ra Quyết định trưng cầu giám định đối với Cao Anh T. Đến ngày 08/01/2021, Viện pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa ban hành kết luận giám định pháp y tâm thần số 29/KL-VPYTW kết luận:

+ Tại thời điểm gây án: Đương sự bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

+ Hiện nay: Đương sự đủ khả năng nhận thực và điều khiển hành vi, cần người đại diện khi làm việc với cơ quan tố tụng.

Bản cáo trạng số 10/CT-VKS ngày 08 - 3 - 2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi đã truy tố bị cáo Cao Anh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Cao Anh T từ 6 (sáu) đến 12 (mười hai) tháng tù.

- Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại đã nhận lại số tiền bị mất 40.350.000đồng (Bốn mươi triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng), không có yêu cầu gì nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về xử lý vật chứng:

+ Số tiền 40.350.000đồng (Bốn mươi triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng) (trong đó tiền trong ví của bị cáo T là 350.000đồng và 40.000.000đồng dưới hố đất bên hông nhà bị cáo T) đã trả lại cho bị hại.

+ 01 (Một) Kìm bấm kẽm màu đen, có vỏ bọc da màu vàng xanh của bị cáo T dùng để bấm hàng rào lưới B40 đây là phương tiện bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

- Đối với số vật chứng thu giữ của bị cáo Cao Anh T gồm:

+ 01 (Một) ví da màu đen

+ 01 (Một) Chứng minh nhân dân mang tên Cao Anh T.

+ 01 (Một) Điện thoại di động hiệu Sam Sung, màu đen.

Đây là tài sản riêng của bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị cáo là có cơ sở.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Cao Anh T trình bày: Thống nhất về tội danh và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Bị cáo hiện tại sức khỏe không được tốt, bị hạn chế khả năng nhận thức khi thực hiện hành vi phạm tội nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng ren đe, giáo dục đối với bị cáo. Nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên tòa, bị cáo Cao Anh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thống nhất với cáo trạng, lời luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Quảng Ngãi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại anh Huỳnh Tấn T1, chị Ngô Thị H vắng mặt, nhưng đã có đơn xin vắng mặt; người đại diện hợp pháp cho bị cáo ông Cao V đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, tại phiên tòa mẹ của bị cáo Cao Anh T là bà Trần Thị M có mặt. Việc vắng mặt của ông Cao V không ảnh hưởng đến quá trình xét xử vụ án. Nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Cao Anh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng 10 giờ ngày 10-10-2020, tại nhà anh Huỳnh Tấn T ở thôn H, xã N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi bị cáo Cao Anh T đã lợi dụng nhà anh Huỳnh Tấn T1 không có người trông coi nên đã lén lút dùng kìm bấm lưới B40 đột nhập vào nhà của anh T và lấy trộm số tiền 40.350.000đồng.

Hành vi của bị cáo Cao Anh T đủ yếu tố cấu T tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số 10/CT-VKS ngày 08 -3 - 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi truy tố đối với bị cáo Cao Anh T là đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn làm ảnh hưởng xấu đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn bất chấp và xem thường pháp luật. Nên hành vi của bị cáo phải được xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt; chưa có tiền án, tiền sự.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Cao Anh T đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, khi phạm tội bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nên được xem là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, q, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, trên cơ sở xem xét, cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, q, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, chưa có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo. Do đó, cần xử phạt tù, nhưng không cần thiết cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo hưởng án treo với thời gian thử thách nhất định cũng đủ điều kiện để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội, thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước, đồng thời phù hợp với quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại đã nhận lại số tiền 40.350.000 đồng (Bốn mươi triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng) và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

+ Số tiền 40.350.000 đồng (Bốn mươi triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng) đã trả lại cho bị hại;

+ Đối với 01 (Một) ví da màu đen, hiệu POLO (đã qua sử dụng); 01(Một) Chứng minh nhân dân số 212671602 mang tên Cao Anh T và 01 (Một) Điện thoại di động hiệu Sam Sung, màu đen loại cảm ứng (đã qua sử dụng). Đây là tài sản của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị cáo là có cơ sở.

+ 01 (Một) Kìm bấm kẽm màu đen, có vỏ bọc da màu vàng xanh là tài sản của bị cáo sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.

Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận;

Đề nghị của luật sư bào chữa cho bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa của bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, q, s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Cao Anh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Cao Anh T 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 27/4/2021.

Giao bị cáo Cao Anh T cho Ủy ban nhân dân xã N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch T tiêu hủy 01 (Một) Kìm bấm kẽm màu đen, có vỏ bọc da màu vàng xanh (đã qua sử dụng).

Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 22/4/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Quảng Ngãi với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Cao Anh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo, bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ