vanban.org

Bản án 31/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 01/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Võ Thành Đ, phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Võ Thành Đ: 06 (Sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 31/3/2021. Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại không yêu cầu bồi thường nên không đặt ra xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Võ Thành Đ, phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ VĨNH CHÂU
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2021/HS-ST
Ngày: 01-9-2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán -Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Triệu Khánh Long.

Bà Nguyễn Huỳnh Hoa.

Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Tú Phương, Thẩm tra viên Toà án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu tham gia phiên tòa: Ông Đinh Văn Kiệt – Kiểm sát viên.

Trong ngày 01 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2021/TLST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2021/QĐXXST-HS, ngày 28/6/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2021/HSST-QĐ ngày 14/7/2021 đối với bị cáo:

Võ Thành Đ, sinh ngày 11/12/2001 tại V C, Sóc Trăng; Nơi cư trú: Ấp T V A, xã V T, thị xã V C, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Nuôi tôm; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ Thành H (s) và bà Sơn Thị Sà P (s); Anh, chị, em ruột: 03 người, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2008; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân tốt; Bị bắt tạm giữ từ ngày 31/3/2021 và tạm giam đến nay (Bị cáo có mặt).

Bị hại: Tăng L, sinh năm 1988; Nơi cư trú : ấp T V B, xã V T, thị xã V C, tỉnh Sóc Trăng.(vắng mặt)

Người làm chứng:

1/ Lâm B, sinh năm 1980; (vắng mặt)

2/ Tăng Thị Sà Q, sinh năm 1979; (vắng mặt)

Cùng nơi cư trú: Ấp T V B, xã V T, thị xã V C, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ, ngày 04/10/2020 Võ Thành Đ nhận được điện thoại của Sơn Huỳnh T (Sơn Minh T) nên điều khiển xe mô tô loại Wave đến nhà của T tại ấp T V A, xã V T, thị xã V C. Khi đến nhà của T cả hai thống nhất cùng đi trộm tài sản để lấy tiền tiêu xài nên Đ lấy xe mô tô hiệu Sirus màu đỏ, không nhớ biển số của T và chở T đi trộm. Khi đi ngang đoạn đường thuộc ấp T V B, xã V T, thị xã V C; Đ nhìn thấy trước nhà Tăng Thị Sà Q có chiếc xe mô tô hiệu Winner, màu đen, biển số 83V1-048.41 của ông Tăng L đang đậu không có ai trông coi. Đ thông báo cho T biết và quay xe lại, khi Đ quay lại khỏi nhà bà Q, Đ dừng xe và kêu T canh đường để Đ vào lấy xe. Khi Đ lén dẫn xe ra lộ thì ông Tăng L từ trong nhà đi ra phát hiện nên truy hô, Đ liền bỏ lại chiếc xe mô tô biển số 83V1-048.41 tại hiện trường và chạy ra để T chở đi tẩu thoát.

Sau khi tiếp nhận tin báo của anh Tăng L, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Vĩnh Châu tiến hành xác minh làm rõ, mời Đ đến cơ quan làm việc, Võ Thành Đ đã thừa nhận hành vi lấy trộm xe biển số 83V1-048.41 của ông Tăng L.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 36/KL-HĐĐGTS, ngày 03/11/2020 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân thị xã Vĩnh Châu kết luận: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu HonDa, loại Winner X, màu đen-bạc-vàng đồng, số máy KC34B 1126444, số khung 3710LY023915, biển số 83V1-048.41, dung tích 149 cm3 có giá trị còn lại là 36.465.000 đồng (Ba mươi sáu triệu bốn trăm sáu mươi lăm nghìn đồng) (tại bút lục 195)

- Tại Cáo trạng số 23/CT-VKS-VC ngày 09/6/2021 Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu đã quyết định truy tố ra trước Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu để xét xử bị cáo: Võ Thành Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự 2015).

- Tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng trong phần tranh luận đã đánh giá tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo, đồng thời giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng và đưa ra các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Võ Thành Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự và khoản 5 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự xử phạt bị cáo từ 4 tháng đến 5 tháng tù và trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa do bị cáo đã bị tạm giam 5 tháng.

Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại không yêu cầu bồi thường nên không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng: Vật chứng là xe mô tô hiệu Honda, loại Winner X, màu đen-bạc-vàng đồng, biển số 83V1-048.41 đã được trả lại cho chủ sở hữu theo Quyết định số: 13/QĐ-ĐTTH, ngày 15/12/2020 của cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Vĩnh Châu, nên không đặt ra xem xét; Riêng cái ổ khóa xe mô tô màu đen, đã bị hư hỏng đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Tại phiên tòa, bị cáo Võ Thành Đ thống nhất với lời luận tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về giúp đỡ gia đình.

- Tại cơ quan điều tra, bị hại thừa nhận có bị mất trộm tài sản đúng như nội dung cáo trạng truy tố và lời nhận tội của bị cáo; Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản của mình nên không có yêu cầu gì khác; Về trách nhiệm hình sự: yêu cầu xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒ A Á N:

Trên cơ sở nội dung vụ án , căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tu ̣ng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đi ̣nh như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Vĩnh Châu, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng minh và chứng cứ: Xét thấy, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Vĩnh Châu đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật được quy định tại các Điều 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 98, 101, 102, 104, 105, 108 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Tại phiên tòa, bị hại Tăng L và những người làm chứng Lâm B, Tăng Thị Sà Q văng mặt, nhưng đã có lời khai rõ ràng trong giai đoạn điều tra. Xét thấy, sự vắng mặt của bị hại và những người làm chứng không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án; căn cứ vào Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị hại và người làm chứng theo quy định của pháp luật.

[4]. Quá trình điều tra cũng như tranh tụng tại phiên tòa bị cáo tuy khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nhưng còn quanh co đổ lỗi cho người khác, trong khi chính bị cáo là người trực tiếp vào trộm xe của bị hại nhưng tại cơ quan điều tra lại đổ lỗi cho tên T. Tại phiên tòa, lời khai nhận của bị cáo là phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thu hồi vật chứng, sơ đồ và bản ảnh hiện trường, lời khai của bị hại cũng như các chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Nên đã có đủ cơ sở kết luận vào ngày 04/10/2020 bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở mất cảnh giác của bị hại trong việc quản lý tài sản, bị cáo đã lén lút lấy trộm chiếc xe mô tô giá trị còn lại là 36.465.000đồng (Ba mươi sáu triệu bốn trăm sáu mươi lăm nghìn đồng). Nên bị cáo đã phạm vào tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chỉ vì tham lam, lườ i biếng lao đô ̣ng nên bi ̣ cáo đa lợ̃ i du ̣ng sự sơ hở mất cảnh giác của ngườ i quản lý tài sản để thực hiện hành vi lén lút trộm cắp tài sản . Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của ngườ i khác về tài sản được pháp luâ ̣t bảo vê ̣ , gây ảnh hưở ng xấu đến trâ ̣t tự xa hô ̣̃ i ở đi ̣a phương , tạo ra sự hoang mang , lo sợ làm cho nhân dân không an tâm lao động sản xuất. Nên cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian hợp lý để giáo dục bị cáo và làm gương cho người khác.

[5].Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại; Bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại không yêu cầu bồi thường nên không đặt ra xem xét.

[7]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 cái ổ khóa xe mô tô màu đen, đã bị hư hỏng do không còn giá trị sử dụng, theo phiếu nhập kho số NK45 ngày 11 tháng 6 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu.

Riêng đối với xe mô tô hiệu Honda, biển số 83V1-048.41, số khung 3710LY023915, số máy KC34B1126444 đã được trả lại cho chủ sỡ hữu theo Quyết định số: 13/QĐ-ĐTTH, ngày 15/12/2020 của cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Vĩnh Châu, nên không đặt ra xem xét.

[8]. Tại phiên tòa xét thấy lời đề nghị của vị Kiểm sát viên đề nghị áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để xử dưới khung hình phạt Viện kiểm sát truy tố là chưa nghiêm, chưa đủ tính răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[9]. Riêng đối với người cùng tham gia trộm cắp (Sơn Huỳnh T, Lâm Minh T hay Sơn Minh T) cùng bị cáo Đ, cơ quan điều tra Công an thị xã Vĩnh Châu chưa xác định được. Đề nghị Cơ quan điều tra Công an thị xã Vĩnh Châu tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ khi có căn cứ xử lý theo quy định của pháp luật.

[10]. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Võ Thành Đ phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Võ Thành Đ, phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173; các điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV.

Tuyên xử:

1. Xử phạt bị cáo Võ Thành Đ: 06 (Sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 31/3/2021.

2. Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại không yêu cầu bồi thường nên không đặt ra xem xét.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 cái ổ khóa xe mô tô màu đen, đã bị hư hỏng, theo phiếu nhập kho số NK45 ngày 11 tháng 6 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm:

Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

5. Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Riêng đối với bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014)”.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ