vanban.org

Bản án 31/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 24/06/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Căn cứ: Khoản 1 Điều 173, điểm b, h, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 15, Điều 57, Điều 38/BLHS * Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H đã phạm tội " Trộm cắp tài sản"( phạm tội chưa đạt) * Xử phạt: Nguyễn Văn H 06( sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi…

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm( 24/6/2021). Người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc Tòa án niêm yết theo quy định của pháp luật. VKSND Thị xã B Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? * Căn cứ: Khoản 1 Điều 173, điểm b, h, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 15, Điều 57, Điều 38/BLHS * Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H đã phạm tội " Trộm cắp tài sản"( phạm tội chưa đạt) * Xử phạt: Nguyễn Văn H 06( sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi…
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ B
TỈNH T

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:31/2021/HS- ST
Ngày 24-6- 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ B, TỈNH T

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Tống Thị Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Đình Hồng

Ông Nguyễn Quốc Sáu

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Trung, là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh T

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã B, tỉnh T tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huấn - Kiểm sát viên

Ngày 15 tháng 6 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh T xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:22/2021/TLST- HS ngày 14 tháng 5 năm 2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:22/2021/QĐXXST-HS ngày 01/6/2021 và quyết định hoãn phiên tòa số: 08/2021/HSST- QĐ ngày 15/6/2021 đối với bị cáo: Nguyễn Văn H - Sinh ngày 02/8/1992, sinh tại: xã C, huyện H, tỉnh T ;NĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn Thiều Xá 2, xã C, huyện H, tỉnh T; Nghề nghiệp: Lao động tự do ; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn P; con bà: Mai Thị K (đã chết); Vợ, con: chưa; Tiền án, tiền sự: Không; Ngày 04/3/2021, bị Cơ quan CSĐT Công an thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo bị tạm giam theo quyết định Tạm giam của Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình. Hiện đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình- Có mặt * Người bị hại: Công ty CP xi măng B, tỉnh T Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hoành V- chức vụ: Tổng giám đốc Người đại diện theo ủy quyền: Ông Ngô Anh T- sinh năm 1964 Chức vụ: Phó chánh văn phòng, Công ty CP xi măng B, tỉnh T.

( vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu sài cá nhân nên khoảng 14 giờ ngày 05/02/2021, Nguyễn Văn H đi bộ từ nhà ở Thôn Thiều Xá 2, xã Cầu Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa ra thị trấn Hà Trung mục đích tìm xem có ai sơ hở thì trộm cắp tài sản. Đến nơi, H gặp N là một người bạn mới quen, thấy N có chiếc xe máy nhãn hiệu Wave Anpha màu đen, BKS: 36F9 – 78.78, H nảy sinh ý định mượn xe Nam ra thị xã B trộm cắp nhưng lại nói dối N là mượn xe để ra thị xã B chơi. N đồng ý. Sau khi mượn được xe, H điều khiển xe máy đi dọc theo Quốc lộ 1A, đến ngã tư đền Sòng thuộc phường Bắc Sơn, rẽ phải đi về hướng Cổng 1 Công ty Cổ phần xi măng B. Tại đây, H điều khiển xe máy đi lòng vòng phía ngoài hàng rào của Công ty. Vừa đi, H vừa quan sát và phát hiện thấy ở một góc tường rào thép gai có một đoạn thép gai đã bị cắt từ trước thành một lỗ hổng có thể chui qua, H liền dựng xe máy dưới hàng cây cạnh hàng rào, cởi áo khoác ngoài bỏ vào cốp xe, thấy trong cốp xe có sẵn 01 kìm điện; 01 bút điện; 01 chiếc bao tay vải, H cầm theo rồi trèo lên cành cây gần tường rào, sau đó, chui qua lỗ hổng thép gai bám vào bờ tường trèo lên trên mái prôximăng Kho vật tư và thấy có một đường dây cáp điện chạy qua. H đeo bao tay, tay phải cầm kìm, tay trái tỳ vào dây điện rồi dùng kìm bóc lớp vỏ bọc bên ngoài. Khi bóc hết lớp vỏ thì lộ ra các lõi dây đồng bên trong, H dùng kìm cắt đứt từng dây một mục đích trộm cắp đoạn dây cáp điện này. Sau khi cắt đứt được một đầu, H tiếp tục cắt sang đầu dây còn lại, đang cắt dở thì bị bảo vệ Công ty phát hiện, H vội vàng vứt lại tài sản trộm cắp cùng kìm, bút điện, bao tay, đôi dép trên mái nhà kho rồi nhảy qua tường rào chạy bộ về hướng cổng 7 Công ty cổ phần xi măng B, đi ra quốc lộ 1A, sau đó, về nhà.

Đến ngày 24/02/2021, Nguyễn Văn H đến Cơ quan CSĐT Công an thành phố Tam Điệp tự thú về hành vi trộm cắp tài sản ngày 19/02/2021 tại phường Trung Sơn, thành phố Tam Điệp đồng thời đầu thú về hành vi trộm cắp tài sản ngày 05/02/2021 tại Công ty Cổ phần xi măng B như đã nêu trên.

Trên cơ sở báo cáo của Công ty cổ phần xi măng B, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Bỉm Sơn tiến hành khám nghiệm hiện trường thu giữ những tài sản, đồ vật sau:

- 16,5m dây cáp điện, lõi bằng đồng loại 3x70mm + 1x35mm đã qua sử dụng; 01 xe máy nhãn hiệu Wave an pha BKS: 36F9 – 78.78; 01 kìm điện; 01 bút điện; 01 chiếc bao tay; 01 đôi dép; 01 áo khoác màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi màu xanh bị vỡ màn hình bên trong lắp sim số: 0349.228.718; Tiền Việt Nam: 172.000 đồng;

Ngày 22/02/2021, Hội đồng định giá tài sản thị xã B định giá kết luận: 16,5m dây cáp điện, lõi bằng đồng, loại 3x70mm + 1x35mm đã qua sử dụng trị giá 7.540.000 đồng (Bảy triệu năm trăm bốn mươi nghìn đồng). Đây là tài sản của Công ty Cổ phần xi măng B. Sau khi khám nghiệm hiện trường, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Bỉm Sơn đã bàn giao lại cho Công ty CP xi măng B. Công ty đã tiến hành khắc phục, sửa chữa hết số tiền 374.472 đồng và yêu cầu Nguyễn Văn H phải bồi thường số tiền này. H đã tác động đến gia đình bồi thường số tiền trên cho Công ty cổ phần xi măng B. Đại diện Công ty đã nhận tiền và không yêu cầu H phải bồi thường gì thêm.

Xử lý tài sản thu giữ:

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi màu xanh bị vỡ màn hình bên trong lắp sim số: 0349.228.718; số tiền: 172.000 đồng là tài sản riêng của H, không liên quan đến vụ án nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã Bỉm S đã trả lại cho H theo quy định của pháp luật;

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave màu đen BKS: 36F9 – 78.78; 01 kìm điện; 01 bút điện; 01 chiếc bao tay là phương tiện, công cụ H sử dụng để trộm cắp tài sản. Theo H khai xe máy H mượn của N còn kìm điện, bút điện, bao tay là tài sản có sẵn ở trong cốp xe. Khi N cho H mượn xe không biết H sẽ dùng xe làm phương tiện để đi trộm cắp tài sản nên không có căn cứ xử lý N. Hơn nữa, N là ai, địa chỉ cụ thể ở đâu H không biết. Cơ quan điều tra tiến hành xác minh nguồn gốc xe máy thông qua tra cứu dữ liệu điện tử quản lý đăng ký xe mô tô nhưng chưa xác định được chủ sở hữu nên chiếc xe máy nhãn hiệu Wave Anpha màu đen BKS 39F9 – 78.78, 01 kìm điện; 01 bút điện; 01 chiếc bao tay được giữ lại bảo quản tại Kho vật chứng của Cơ quan CSĐT Công an thị xã B để tiếp tục điều tra và xử lý theo quy định của pháp luật;

- 01 đôi dép; 01 áo khoác màu đen chuyển sang Chi cục Thi hành án dân sự thị xã B để xử lý theo quy định của pháp luật;

Tại bản cáo trạng số: 28/CT-VKSBS ngày 11 tháng 5 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội " Trộm cắp tài sản" theo điểm khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát duy trì công tố giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:

* Về trách nhiệm hình sự:

- Hình phạt chính: Đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 15, Điều 57 và Điều 38/BLHS đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

- Về hình phạt bổ sung: Xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn nên đề nghị không áp dụng khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự để phạt tiền đối với bị cáo.

* Về xử lý tài sản và đồ vật thu giữ:

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi màu xanh bị vỡ màn hình bên trong lắp sim số: 0349.228.718; số tiền: 172.000 đồng là tài sản riêng của H, không liên quan đến vụ án nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã B đã trả lại cho H theo quy định của pháp luật;

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave màu đen BKS: 36F9 – 78.78; 01 kìm điện; 01 bút điện; 01 chiếc bao tay là phương tiện, công cụ H sử dụng để trộm cắp tài sản. Theo H khai xe máy H mượn của N còn kìm điện, bút điện, bao tay là tài sản có sẵn ở trong cốp xe. Khi N cho H mượn xe không biết H sẽ dùng xe làm phương tiện để đi trộm cắp tài sản nên không có căn cứ xử lý N. Hơn nữa, N là ai, địa chỉ cụ thể ở đâu H không biết. Cơ quan điều tra tiến hành xác minh nguồn gốc xe máy thông qua tra cứu dữ liệu điện tử quản lý đăng ký xe mô tô nhưng chưa xác định được chủ sở hữu nên chiếc xe máy nhãn hiệu Wave Anpha màu đen BKS 36F9 – 78.78, 01 kìm điện; 01 bút điện; 01 chiếc bao tay được giữ lại bảo quản tại Kho vật chứng của Cơ quan CSĐT Công an thị xã B để tiếp tục điều tra và xử lý theo quy định của pháp luật;

- 01 đôi dép; 01 áo khoác màu đen

+ Trong gia đoạn truy tố và tại phiên tòa bị cáo yêu cầu tịch thu tiêu hủy nên đề nghị tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật

* Về TNDS: Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho công ty xi măng B. Gia đình Hùng đã bồi thường cho công ty chi phí lắp đặt. Công ty đã nhận lại tài sản và chi phí lắp đặt nên không yêu cầu Hùng phải bồi thường gì thêm.

* Về án phí HSST: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét khách quan toàn diện chứng cứ, ý kiến phát biểu của kiểm sát viên và bị cáo;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Tại phiên tòa đại diện người bị hại ông Ngô Anh T vắng mặt. Bị cáo và đại diện Viện kiểm sát không đề nghị HĐXX hoãn phiên tòa. Hồ sơ vụ án thể hiện lời khai của người bị hại đầy đủ, việc vắng mặt của bị hại không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát. Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu có trong hồ sơ, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ ngày 05/02/2021, tại Kho vật tư Công ty Cổ phần xi măng B thuộc Khu 7, phường B, thị xã B, tỉnh T, Nguyễn Văn H có hành vi lén lút trộm cắp 16,5m dây cáp điện, lõi bằng đồng, loại 3x70mm + 1x35m trị giá là 7.540.000 đồng (Bảy triệu năm trăm bốn mươi nghìn đồng) của Công ty cổ phần xi măng B. Khi đang thực hiện hành vi trộm cắp thì bị phát hiện nên H để lại tài sản trộm cắp và bỏ chạy. Hành vi của Nguyễn Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội " Trộm cắp tài sản" ( phạm tội chưa đạt) tội phạm và hình phạt được quy định xử lý tại khoản 1 Điều 173/BLHS.

Xét tính chất vụ án: Đây là vụ án có tính chất ít nghiêm trọng, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội một cách liều lĩnh lợi dụng một lỗ hổng của góc tường rào thép gai bám vào bờ tường trèo lên cành cây gần tường rào sau đó chui qua lỗ hổng của thép gai cắt một đoạn dây cáp nhằm mục đích trộm cắp. Hành vi phạm tội của bị cáo làm thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, gây mất trật tự trị an, gây tâm lý hoang mang và gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân trên địa bàn. Bị cáo cố ý thực hiện hành vi phạm tội nhưng không thực hiện được đến cùng vì bị bảo vệ phát hiện nên phạm tội chưa đạt. Bị cáo là người có nhân thân tốt. Tuy nhiên, sau khi thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp dây dây cáp điện ngày 05/02/2021 đến ngày 19/02/2021 bị cáo lại tiếp tục phạm tội trộm cắp tài sản tại phường Trung Sơn, thành phố Tam Điệp.Vì vậy, để đấu tranh phòng chống tội phạm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị của địa phương, HĐXX cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc và cách ly khỏi xã hội mới cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời mới có tác dụng phòng ngừa chung.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS

Tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo đã đến cơ quan điều tra đầu thú, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, người phạm tội bồi thường thiệt hại, phạm tội gây thiệt hại không lớn. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51/BLHS.

Về xử lý tài sản và đồ vật thu giữ:

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi màu xanh bị vỡ màn hình bên trong lắp sim số: 0349.228.718 và số tiền: 172.000 đồng là tài sản riêng của Hùng, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho Hùng theo quy định của pháp luật nên HĐXX miễn xét.

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave màu đen BKS: 36F9 – 78.78; 01 kìm điện; 01 bút điện; 01 chiếc bao tay là phương tiện, công cụ Hùng sử dụng để trộm cắp tài sản. Theo H khai xe máy H mượn của N còn kìm điện, bút điện, bao tay là tài sản có sẵn ở trong cốp xe. Khi N cho H mượn xe không biết H sẽ dùng xe làm phương tiện để đi trộm cắp tài sản nên không có căn cứ xử lý N. Cơ quan điều tra chưa xác định được chủ sở hữu nên chiếc xe máy nhãn hiệu Wave Anpha màu đen BKS 36F9 – 78.78, 01 kìm điện; 01 bút điện; 01 chiếc bao tay được giữ lại bảo quản tại Kho vật chứng của Cơ quan CSĐT Công an thị xã B để tiếp tục điều tra và xử lý theo quy định của pháp luật;

- ¸p dông ®iÓm c kho¶n 2 §iÒu 106/ Bé luËt tè tông h×nh sù,xử lý số tang vật của vụ án đã được bàn giao sang Chi cục Thi hành án Theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 13/5/2021 giữa Cơ quan Công an và Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã B cụ thể: Tịch thu tiêu hủy 01 đôi dép; 01 áo khoác màu đen theo quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản mà bị cáo định chiếm đoạt là 16,5m dây cáp điện Công ty đã tiến hành khắc phục, sửa chữa hết số tiền 374.472 đồng. Gia đình bị cáo đã bồi thường số tiền trên cho Công ty cổ phần xi măng B. Đại diện Công ty đã nhận tiền và không yêu cầu H phải bồi thường gì thêm nên miễn xét.

- Án phí HSST bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ: Khoản 1 Điều 173, điểm b, h, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 15, Điều 57, Điều 38/BLHS * Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H đã phạm tội " Trộm cắp tài sản"( phạm tội chưa đạt) * Xử phạt: Nguyễn Văn H 06( sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. * Về vật chứng: ¸p dông ®iÓm c kho¶n 2 §iÒu 106/ Bé luËt tè tông h×nh sù,xử lý số tang vật đã được bàn giao sang Chi cục Thi hành án Theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 13/5/2021 giữa Cơ quan Công an và Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã B cụ thể: Tịch thu tiêu hủy 01 đôi dép; 01 áo khoác màu đen. * Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 và danh mục án phí lệ phí ban hành kèm theo buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo Nguyễn Văn H, vắng mặt người bị hại.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm( 24/6/2021). Người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc Tòa án niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ