- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Trung H, sinh năm 1983 tại tỉnh Tiền Giang; - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Tòa quyết gì? Điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 47, điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 55 Bộ luật hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GÒ CÔNG TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:31/2021/HS-ST Ngày: 28-5-2021. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thưa;
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Đăng Khoa;
2. Ông Võ Thanh Liêm;
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Hồng Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã GC, tỉnh Tiền Giang;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã GC, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Phạm Duyên An - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân thị xã GC, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 28/2021/TLST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2021, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2021/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 5 năm 2021 đối với bị cáo:
Trần Trung H, sinh năm 1983 tại tỉnh Tiền Giang; Nơi cư trú: MCM khu phố B, phường M, thị xã GC, tỉnh Tiền Giang; Chỗ ở: Ấp HH, xã LH, thị xã G C, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn T (chết) và bà: Phạm Thị N (chết); Bị cáo có vợ và 01 con; Tiền án: 03 lần (Đã xóa án tích):
+ Lần 1: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 03/HSST ngày 23/4/2002 của Tòa án nhân dân thị xã GC xử phạt Trần Trung H 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/01/2002 về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong tháng 8/2002;
+ Lần 2: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 24/2005/HSST ngày 03/6/2005 của Tòa án nhân dân huyện GCĐ xử phạm Trần Trung H 18 tháng tù tội trộm cắp tài sản, 09 tháng tù tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tổng hợp hình phạt 02 tội là 27 tháng tù thời hạn tù tính từ ngày 10/7/2004, chấp hành xong tháng 9/2006;
+ Lần 3: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 23/2009/HSST ngày 18/02/2009 của Tòa án nhân dân huyện HM, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt Trần Trung H 02 năm tù về tội trộm cắp tài sản và 03 năm tù về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Tổng hợp hình phạt của 02 tội là 05 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/10/2008. Chấp hành xong ngày 21/4/2013;
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/11/2020 cho đến nay tại nhà tạm giữ Công an thị xã GC, có mặt tại phiên tòa;
* Người bị hại:
Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1966 (Có mặt);
Nơi cư trú: ấp HH, xã LH, thị xã GC, tỉnh Tiền Giang;
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Ngô Thị Mỹ T, sinh năm: 1989 (Có mặt);
Nơi cư trú: ấp TT, xã ATT, huyện CG, tỉnh Tiền Giang;
* Người làm chứng:
1. Bà Đặng Thị S, sinh năm 1970 (Vắng mặt);
Nơi cư trú: số BH Khu phố M, phường M, thị xã GC, tỉnh Tiền Giang;
2. Ông Châu Văn M, sinh năm 1965 (Vắng mặt);
Nơi cư trú: ấp HH, xã LH, thị xã GC, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Trung H sinh đã thực hiện 01 vụ án cố ý gây thương tích tại khu phố M, phường M, thị xã GC, tỉnh Tiền Giang vào ngày 18/02/2020 và 01 vụ tàng trữ trái phép chất ma túy vào ngày 05/11/2020 tại khu phố M, phường B, thị xã GC, tỉnh Tiền Giang. Cụ thể như sau:
1. Vụ thứ 1:
Vào khoảng 11 giờ ngày 18/02/2020, Trần Trung H đang dự đám giỗ tại xã LH, thị xã GC đến khoảng 13 giờ cùng ngày thì Trần Trung H nhận được điện thoại của chị Trần Thị Kim L (Là chị gái cùng cha khác mẹ với H) trong điện thoại chị L nói rằng: “Mày chạy ra đây H, vợ P đánh tao ngoài đây nè”. Sau khi nghe xong H sử dụng xe mô tô hai bánh không nhớ rõ biển số chạy đến cổng số 2 Chợ mới GC thuộc khu phố M, phường M, thị xã GC, tỉnh Tiền Giang nơi chị Trần Thị Kim L đang bán hàng. Lúc này khoảng 13 giờ 30 phút, H đi đến gặp bà Nguyễn Thị X hỏi: “Sao đánh chị tao?”. Sau đó, H đã dùng tay đánh vào mặt, rồi tiếp tục nhặt một đoạn cây ở gần đó đánh vào vai, rồi vứt bỏ khúc cây tại chỗ rồi quay lại đám giỗ tiếp tục uống rượu. Bà Nguyễn Thị X được người dân đưa đến Bệnh viện đa khoa khu vực GC điều trị vết thương.
Vật chứng thu giữ:
- Một đoạn cây tròn, đường kính 03 cm; dài 1,4m (Loại cây keo).
Theo Giấy chứng nhận thương tích số: 15/CN ngày 24/02/2020 của Bệnh viện đa khoa khu vực GC thương tích của bà Nguyễn Thị X như sau: Vùng cánh tay (T) có 01 vết bầm kích thước # 04 x 02 cm kèm đau nhức nhiều, tay (T) không giới hạn vận động, vùng đùi (T) có 01 vết bầm kích thước # 01 x 01 cm, bầm nhẹ vùng quanh rốn kích thước # 01 x 01 cm, xây sát kèm theo đỏ vùng da sau lưng, sưng nề má (P).
Theo Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 136/2020/TgT ngày 17/3/2020 của Trung tâm Pháp y tỉnh Tiền Giang thì tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Nguyễn Thị X là 01% (Một phần trăm).
2. Vụ thứ 2:
Vào lúc 12 giờ 30 phút, ngày 05/11/2020 tại ấp HH, xã LH, thị xã GC, tỉnh Tiền Giang, Đội Cảnh sát điều tra về tội phạm kinh tế - ma túy kết hợp với Công an xã LH, thị xã GC bắt quả tang đối tượng Trần Trung H có hành vi: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tang vật thu giữ:
- 07 (bảy) gói băng keo màu trắng được hàn kín bên trong chưa tinh thể rắn màu trắng, bên ngoài có ghi số (03 (ba) gói ghi số 3, 01 (một) gói ghi số 5, 02 (hai) gói ghi số 2, 01 (một) gói ghi số 7) và Châu Văn M (người chứng kiến).
- 05 (năm) bịch ni long màu trắng được hàn kín bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng trong suốt;
- 01 (một) bịch ni lông màu đỏ được hàn kín bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng trong suốt;
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 5S màu trắng hồng đã qua sử dụng còn sim bên trong;
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu trắng đã qua sử dụng còn sim bên trong;
- 01 (một) hộp màu trắng xám bằng nhựa có ghi chữ Focus;
- 01 (một) xe đạp điện màu đỏ đen nhãn hiệu ASAMA.
Theo Kết luận giám định số 220/KLGĐ-PC09 ngày 07/11/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tiền Giang:
Các mẫu tinh thể trong suốt trong 12 (mười hai) gói nylon màu trắng được hàn kín (loại nhỏ) và trong 01 (một) gói nilong màu đỏ được hàn kín (loại nhỏ), để trong 01 (một) gói nylon màu trắng được hàn kín có viền màu đỏ một đầu (loại lớn) sau đó để trong một bì thư màu trắng được niêm phong có các chữ ký ghi họ tên: Trần Trung H và Châu Văn M; gửi giám định đều là ma túy, có tổng khối lượng 2,6498 gam, loại Methamphetamine.
Tại bản cáo trạng số 25/CT-VKSTXGC ngày 23/4/2021 của Viện kiểm sát nhân dân Thị xã GC, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Trần Trung H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự;
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã GC, tỉnh Tiền Giang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
1/ Tuyên bố bị cáo Trần Trung H phạm tội “Cố ý gây thương tích” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
2/ Về hình phạt: Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 55 Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt bị cáo Trần Trung H từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” và 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung của hai tội là 02 năm 03 tháng đến 03 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/11/2020.
3/ Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật Dân sự. Buộc bị cáo Trần Trung H bồi thường cho bị hại 10.000.000 đồng sau khi án có hiệu lực pháp luật.
4/ Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
* Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) đoạn cây tròn, đường kính 03 cm; dài 1,4m (Loại cây keo).
- 01 (một) bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 220 ghi ngày 07 tháng 11 năm 2020, có các chữ ký in họ tên: Nguyễn Thanh T (Giám định viên), Huỳnh Thị Diệu H (trợ lý giám định), chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Minh T (Bên nhận) và hình dấu tròn đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG; bên trong có 01 (một) gói nylong màu trắng được dán kín chứa 2,3810 gam là ma túy còn lại sau gám định, loại Methamphetamine, 14 (mười bốn) vỏ bao gói nylon đã cắt một đầu để lấy mẫu giám định và 07 (bảy) miếng băng keo.
- 01 (một) hộp màu trắng xám bằng nhựa có ghi chữ Focus.
* Tịch thu sung quỹ Nhà nước:
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 5S màu trắng hồng đã qua sử dụng còn sim bên trong;
* Trả lại cho bị cáo: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu trắng đã qua sử dụng còn sim bên trong.
4/ Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Bị cáo Trần Trung H rất ăn năn hối hận về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã G C, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã GC, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên tòa bị cáo Trần Trung H đã khai nhận: Vào khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 18/02/2020 tại cổng số 2 Chợ mới GC thuộc khu phố M, phường M, thị xã GC, tỉnh Tiền Giang, bị cáo Trần Trung H đã vô cớ, dùng khúc cây gỗ đường kính 3 cm, chiều dài 140 cm là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bà Nguyễn Thị X với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 01% (Một phần trăm). Vào khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 05/11/2020, tại ấp HH, xã LH, thị xã GC, tỉnh Tiền Giang. Trần Trung H tàng trữ 2,6498 gam loại Methamphetamine để sử dụng bị bắt quả tang như nội dung Cáo trạng đã nêu, không có oan sai.
Lời khai nhận trên của bị cáo đã phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản bắt người phạm tội quả tang của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã GC; Giấy chứng nhận thương tích số: 15/CN ngày 24/02/2020 của Bệnh viện đa khoa khu vực GC, Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 136/2020/TgT ngày 17/3/2020 của Trung tâm Pháp y tỉnh Tiền Giang, Kết luận giám định số 220/KLGĐ-PC09 ngày 07/11/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tiền Giang, lời khai của người bị hại, người làm chứng, đồng thời khớp với các lời khai trước đây của bị cáo tại Cơ quan cơ điều tra và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
. Với các chứng cứ tài liệu đã nêu trên, Hội đồng xét xử có đầy đủ cơ sở để kết luận bị cáo Trần Trung H đã có hành vi vô cớ dùng 01 khúc cây gỗ đường kính 3 cm, chiều dài 140 cm là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bà Nguyễn Thị X với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 01%, tàng trữ 2,6498 gam loại Methamphetamine để sử dụng. Hành vi trên của bị cáo đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” được qui định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
. Về động cơ, mục đích phạm tội: Bị cáo Trần Trung H có đầy đủ sức khỏe và năng lực hành vi, bị hại với bị cáo không có mâu thuẫn gì trước đó mà bị cáo vẫn gây thương tích cho bị hại, điều đó thể hiện tính chất côn đồ xem thường pháp luật của bị cáo. Hơn nữa, nhằm mục đích muốn sử dụng ma túy nên đã bất chấp pháp luật cố ý phạm tội. Hành vi phạm tội trên đây của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm xâm phạm đến sức khỏe của người khác, xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây thiệt hại đến tính mạng sức khỏe con người, làm băng hoại đạo đức xã hội, là nguyên nhân gây tác động tiêu cực đến đời sống nhân dân, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm đối với hành vi của bị cáo gây ra.
. Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân không tốt, có 03 tiền án đã được xóa án tích cụ thể:
+ Lần 1: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 03/HSST ngày 23/4/2002 của Tòa án nhân dân thị xã GC xử phạt Trần Trung H 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/01/2002 về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong tháng 8/2002;
+ Lần 2: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 24/2005/HSST ngày 03/6/2005 của Tòa án nhân dân huyện GCĐ xử phạm Trần Trung H 18 tháng tù tội trộm cắp tài sản, 09 tháng tù tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tổng hợp hình phạt 02 tội là 27 tháng tù thời hạn tù tính từ ngày 10/7/2004, chấp hành xong tháng 9/2006;
+ Lần 3: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 23/2009/HSST ngày 18/02/2009 của Tòa án nhân dân huyện H M, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt Trần Trung H 02 năm tù về tội trộm cắp tài sản và 03 năm tù về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Tổng hợp hình phạt của 02 tội là 05 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/10/2008. Chấp hành xong ngày 21/4/2013.
. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, bị cáo Trần Trung H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra trong việc phát hiện tội phạm là các tình tiết giảm nhẹ theo điểm s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Xét về nhân thân bị cáo H có 03 tiền án đã được xóa án tích. Tuy nhiên, sau khi chấp hành xong hình phạt được trả tự do hoà nhập cộng đồng, bị cáo không nhận thức được lỗi lầm của mình để làm ăn lương thiện mà lại tiếp tục phạm tội, điều này chứng tỏ rằng bị cáo xem thường pháp luật, không chịu sửa chữa lỗi lầm, phạm tội có tính chất côn đồ vô cớ gây thương tích cho bị hại. Vì vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục răn đe và phòng chống tội phạm, đồng thời cho bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội và có thời gian cai nghiện.
. Theo qui định tại khoản 5 điều 249 của Bộ luật hình sự thì bị cáo có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 500 triệu đồng, tuy nhiên xét bị cáo không có tài sản nên Hội đồng xét xử không phạt tiền đối với bị cáo.
. Bị cáo Trần Trung H không nhớ sử dụng xe mô tô hai bánh để đi đến Chợ mới GC là mượn của ai, xe biển số chính xác là gì.
. Bà Trần Thị Kim L là người điện thoại cho bị cáo Trần Trung H nói rằng mình đang bị bà Nguyễn Thị X đánh và kêu bị cáo Trần Trung H đến nơi xảy ra sự việc. Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thị xã GC đã tiến hành xác minh bà Trần Thị Kim L không hộ khẩu tại xã YL, huyện GCT, tỉnh Tiền Giang, tiến hành xác minh tại Phường M, thị xã GC, tỉnh Tiền Giang nơi buôn bán hiện tại bà không còn buôn bán tại đây, đi đâu làm gì không rõ. Khi làm việc được sẽ làm rõ hành vi của bà Trần Thị Kim L và xử lý sau.
. Trần Trung H mua ma túy của người tên H ở thị trấn TH, huyện G C Đ và Võ Nhựt H mang đến giao cho Trần Trung H cất giữ, sử dụng đến ngày 05/11/2020 thì bị bắt quả tang. Hiện tại Võ Nhựt H đã bị khởi tố điều tra xét xử trong vụ án khác. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh đối tượng H tại thị trấn TH, huyện GCĐ, tỉnh Tiền Giang nhưng ở địa phương không có đối tượng. Vì vậy sẽ tiếp tục xác minh và làm việc sau.
. Chị Ngô Thị Mỹ T hoàn toàn không biết sự việc Trần Trung H tàng trữ trái phép chất ma túy nên không có cơ sở truy cứu trách nhiệm.
. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường tổng cộng 10.000.000 đồng (Bao gồm tiền chi phí điều trị và các chi phí hợp lý khác), bị cáo cũng đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại. Xét thấy việc thỏa thuận trên giữa bị cáo và bị hại là hoàn toàn tự nguyện nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Tuy nhiên, về thời gian bồi thường bị cáo xin khi nào chấp hành xong hình phạt xong sẽ bồi thường sẽ làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bị hại. Do đó, cần buộc bị cáo bồi thường 10.000.000 đồng cho bị hại sau khi án có hiệu lực pháp luật là phù hợp quy định tại các Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật dân sự.
. Về vật chứng:
Ngày 13/11/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thị xã GC trao trả lại cho chị Ngô Thị Mỹ T: 01 (một) xe đạp điện màu đỏ đen nhãn hiệu ASAMA. Việc xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra là đúng quy định pháp luật nên ghi nhận.
Các vật chứng còn lại căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý như sau:
- 01 (một) đoạn cây tròn, đường kính 03 cm, dài 1,4m (loại cây keo): đây là công cụ bị cáo dùng để gây thương tích cho bị hại nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 (một) bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 220 ghi ngày 07 tháng 11 năm 2020, có các chữ ký in họ tên: Nguyễn Thanh T (Giám định viên), Huỳnh Thị Diệu H (Trợ lý giám định), chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Minh T (Bên nhận) và hình dấu tròn đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG; bên trong có 01 (Một) gói nylong màu trắng được dán kín chứa 2,3810 gam là ma túy còn lại sau gám định, loại Methamphetamine: đây là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
- 14 (Mười bốn) vỏ bao gói nylon đã cắt một đầu để lấy mẫu giám định và 07 (Bảy) miếng băng keo, 01 (Một) hộp màu trắng xám bằng nhựa có ghi chữ Focus: không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 5S màu trắng hồng đã qua sử dụng còn sim bên trong: đây là công cụ bị cáo dùng để mua ma túy nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu trắng đã qua sử dụng còn sim bên trong: không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo.
. Bị cáo Trần Trung H phải chịu án phí sơ thẩm theo qui định tại Điều 135, Đều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
. Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 47, điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 55 Bộ luật hình sự;
- Điều 106; Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Các Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật Dân sự;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
1. Tuyên bố bị cáo Trần Trung H phạm tội “Cố ý gây thương tích và Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
2. Về hình phạt:
- Xử phạt bị cáo Trần Trung H 09 (chín) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” và 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung của hai tội là 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/11/2020.
3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo H bồi thường 10.000.000 đồng cho bà Nguyễn Thị X, thời gian sau khi án có hiệu lực pháp luật.
4. Về xử lý vật chứng:
* Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (Một) đoạn cây tròn, đường kính 03 cm; dài 1,4m (Loại cây keo).
- 01 (Một) bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 220 ghi ngày 07 tháng 11 năm 2020, có các chữ ký in họ tên: Nguyễn Thanh T (Giám định viên), Huỳnh Thị Diệu H (Trợ lý giám định), chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Minh T (Bên nhận) và hình dấu tròn đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG; bên trong có 01 (Một) gói nylong màu trắng được dán kín chứa 2,3810 gam là ma túy còn lại sau gám định, loại Methamphetamine, 14 (Mười bốn) vỏ bao gói nylon đã cắt một đầu để lấy mẫu giám định và 07 (Bảy) miếng băng keo.
- 01 (Một) hộp màu trắng xám bằng nhựa có ghi chữ Focus
* Tịch thu sung quỹ Nhà nước:
- 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 5S màu trắng hồng đã qua sử dụng còn sim bên trong;
* Trả lại cho bị cáo: 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu trắng đã qua sử dụng còn sim bên trong.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/5/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã GC và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã GC)
5. Về án phí: Bị cáo H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án để Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - Sở Tư pháp tỉnh Tiền Giang; - VKSND thị xã GC; - Công an thị xã GC; - Chi cục THADS thị xã GC; - Bộ phận THA phạt tù; - Bị cáo, người bị hại, NLQ; - Lưu HS, AV. | Nguyễn Văn Thưa |