- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc D trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Ngọc D phải nộp 200.
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN K THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2021/HS-ST Ngày 28-9-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN K, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Văn Tỉnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Công Biên
Ông Vũ Văn Hóa
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Chính -Thư ký Tòa án nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận K tham gia phiên tòa: Bà Lương Quỳnh Trang -Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 30/2021/TLST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 707/2021/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Ngọc D, sinh ngày 25-12-1974, tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Tổ G1, phường P, quận K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc H và bà Trần Thị M, có vợ là Nguyễn Lệ T, có 01 con sinh năm 2007; tiền án, tiền sự, nhân thân: Bản án số 13/1994/HSST ngày 12/5/1994, Tòa án nhân dân thị xã K xử phạt 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo (thời gian thử thách là 42 tháng) về tội Cướp tài sản công dân (đã được xóa án tích); Bản án số 696/1996/HSST ngày 20/5/1996, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao xử phạt 12 năm tù về tội cướp tài sản của công dân, tổng hợp hình phạt với bản án số 13/1994/HSST ngày 12/5/1994 là 14 năm 06 tháng tù (đã được xóa án tích); Bản án số 45/2008/HSST ngày 18/7/2008, Tòa án nhân dân quận K xử phạt 36 tháng tù giam về tội Cướp giật tài sản (đã được xóa án tích); Bản án số 09/2012/HSST ngày 01/3/2012 Tòa án nhân dân quận Kiến An xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đã được xóa án tích); bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12-7-2021, tạm giam từ ngày 17-7-2021 tại tại Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Bị hại: Ông Nguyễn Trí K, sinh năm 1965, nơi cư trú: Số 95 L, phường B, quận K, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Người làm chứng: Ông Vũ Phi T, anh Bùi Văn N, bà Trần Thị M, bà Đào Thị T, bà Bùi Thị H; đều vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16h30 phút, ngày 03/7/2021, Nguyễn Ngọc D đi xe taxi đến cửa hàng bán loa đài của ông Nguyễn Trí K, ở số 95 Lê Quốc U, phường B, quận K, Hải Phòng. Đến nơi, D đi vào nhà gọi ông K nhưng không thấy ông K trả lời nên D nảy sinh ý định trộm cắp 02 chiếc loa nhãn hiệu BOSE, số loại 301 series IV màu ghi xám để ở vị trí sát cửa ra vào. D quan sát không thấy ai nên đã bê hai chiếc loa cho vào trong cốp xe tacxi. Sau đó, D lên xe taxi bảo người lái xe chở về nhà anh Vũ Phi T (sinh năm 1974, trú tại số 232 đường T, K, Hải Phòng). D bê loa xuống và nói với T đây là loa D vừa mua, nhờ anh T thử hộ. Sau đó, D mang loa về nhà D ở tổ Đ1, phường P, quận K để cất giấu và sử dụng. Ngày 04/7/2021, ông Nguyễn Trí K đến Công an phường B trình báo sự việc bị mất trộm. Dũng biết thông tin ông K đã đến Công an trình báo nên ngày 05/07/2021, D đã thuê một người lái xe ôm không quen biết chở hai chiếc loa đến địa chỉ số 95 L trả ông K. Ngày 12/07/2021, Nguyễn Ngọc D đến Công an quận K đầu thú.
Kết luận định giá tài sản số 22/KL-ĐG ngày 13/7/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xác định: Giá trị của 01 (một) đôi loa đã qua sử dụng (01 loa trái và 01 loa phải) nhãn hiệu BOSE series IV, tình trạng, chất lượng còn lại, màu sắc, kích thước, xuất xứ, số hiệu được thống nhất như trong chứng thư giám định tình trạng và chất lượng loa BOSE số 213-093/999/FR ngày 12/7/2021 của Công ty TNHH Giám định-Định giá 999 tại thời điểm ngày 03/7/2021 có giá trị 7.400.000 đồng.
Bản Cáo trạng số 28/CT-VKS ngày 16-9-2021 của Viện Kiểm sát nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà:
Bị cáo Nguyễn Ngọc D khai nhận hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận K đã truy tố.
Bị hại khai có nội dung phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bị cáo bồi thường.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An phân tích hành phạm tội, đánh giá tính chất vụ án, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hoàn cảnh gia đình của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc D từ 24 tháng đến 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Sau khi kết thúc phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận K, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
Lời khai nhận của bị cáo Nguyễn Ngọc D tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, kết luận định giá tài sản và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở khẳng định khoảng 16 giờ 30 phút ngày 03/7/2021, tại cửa hàng số 95 L, phường B, quận K, Hải Phòng, bị cáo Nguyễn Ngọc D đã có hành vi lợi dụng sơ hở, lén lút chiếm đoạt 02 chiếc loa nhãn hiệu BOSE trị giá 7.400.000 đồng của ông Nguyễn Trí K. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
- Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:
Tính chất vụ án tuy ít nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo có 04 tiền án đều về tội chiếm đoạt tài sản, mặc dù đã được xóa án tích nhưng cũng xác định bị cáo có nhân thân xấu nên phải xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc, cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục cải tạo bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, sau khi phạm tội bị cáo ra đầu thú và tự nguyện khắc phục hậu quả trả lại tài sản chiếm đoạt cho bị hại do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt bổ sung:
Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Xét bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản đầy đủ, nguyên vẹn, không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xét.
- Về các vấn đề khác:
Trong quá trình điều tra, bị hại là ông Nguyễn Trí K còn khai báo thời gian gần đây tại cửa hàng của ông cũng đã bị mất cắp các tài sản là 02 chiếc âm ly có giá trị 2.500.000 đồng, tuy nhiên Nguyễn Ngọc D khai ngoài 02 chiếc loa mang nhãn hiệu BOSE D lấy trộm vào ngày 03/07/2021 thì D không lấy bất cứ tài sản nào khác của ông K nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.
Đối với người lái xe taxi đã chở Nguyễn Ngọc D đến cửa hàng của ông K và giúp D chở 02 chiếc loa đi chỉ thực hiện việc chở khách theo hợp đồng, không biết về việc D đi trộm cắp tài sản nên không xử lý trách nhiệm hình sự là có căn cứ.
- Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Ngọc D 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/7/2021.
Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Ngọc D phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - VKSND quận K; - VKSND thành phố Hải Phòng; - TAND thành phố Hải Phòng; - Công an quận K; - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an quận K; - PV 27 Công an thành phố Hải Phòng; - Chi cục THADS quận K - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng; - Lưu: VP; hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Văn Tỉnh |