vanban.org

Bản án 31/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 14/06/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Minh H, bị cáo Đặng Trường Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự: Giao xe mô tô biển số 63H1-0557 cho cơ quan cảnh sát Điều tra công an Long Hồ tiếp tục xác minh xử lý. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Minh H, bị cáo Đặng Trường Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG HỒ
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

–––––––––––––––
Bản án số: 31/2021/HS-ST
Ngày 14/6/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ-TỈNH VĨNH LONG

Th phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phạm Trí Trường

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ ông Trần Thanh Khen

2/ ông Nguyễn Văn Phước

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Trúc Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Hồ - tỉnh Vĩnh Long.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ tham gia phiên tòa: ông Hồ Tuấn Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2021/TLST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2021/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2021 đối với các bị cáo:

1 Bị cáo Phạm Minh H, sinh năm 1997. Tại: tỉnh Vĩnh Long.

Nơi cư trú: ấp Phước Lợi A, xã Phước Hậu, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hoá: 10/12; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: nam; Con ông Phạm Văn H và bà Phạm Thị Lệ H; anh chị em ruột có 02 người (Lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất bị cáo); Tiền sự: Không;

Tiền án: Ngày 02/7/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Long Hồ tuyên phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm về tội Trộm cắp tài sản. Bị cáo đang trong thời gian thử thách tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Nhân thân: Đã bị kết án.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/02/2021 đến nay có mặt tại tòa.

2 Bị cáo Đặng Trường Th, sinh năm 1985. Tại: tỉnh Vĩnh Long.

Nơi cư trú: ấp Long Thuận A, xã Long Phước, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

Nghề nghiệp: mua bán; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: nam; Con ông Đặng Văn R và bà Trần Thị L; anh chị em ruột có 04 người (Lớn nhất sinh năm 1975, nhỏ nhất bị cáo); Vợ: Lê Thị Thu Tr; Con: Đặng Đạt H; Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 29/5/2016, bị Phòng cảnh sát hành chính Công an tỉnh Vĩnh Long ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc, bị cáo đã chấp hành xong quyết định (được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính).

Ngày 15/6/2020, bị Công an th phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000đ về hành vi Trộm cắp tài sản, bị cáo chưa chấp hành quyết định.

Nhân thân: Chưa bị kết án

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/02/2021 đến nay có mặt tại tòa

Bị hại:

1/ Trần Văn B, sinh năm 1956

Địa chỉ: ấp Phước Lợi A, xã Phước Hậu, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long

2/ Trần Phúc N, sinh năm 1963

Địa chỉ: ấp Phước Lợi A, xã Phước Hậu, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long

3/ Trần Bảo Hoài H, sinh năm 1981

Địa chỉ: ấp An Thạnh, xã Phú Đức, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Phạm Văn Hưng, sinh năm 1970. Địa chỉ: ấp Phước Lợi A, xã Phước Hậu, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long .

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Minh H và Đặng Trường Th là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy và có mối quan hệ bạn bè với nhau. Vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên H và Th đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác tại địa bàn huyện Long Hồ, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất:

Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 05/10/2020, H rủ Th đi tìm mai vàng lấy trộm thì Th đồng ý. Th điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 64H1 - 0557 của gia đình Th đến nhà của H chở H đi tìm mai vàng lấy trộm. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, Th điều khiển xe đến đoạn đường thuộc ấp An Thạnh, xã Phú Đức, huyện Long Hồ thì Th và H nhìn thấy phía trước nhà của anh Trần Bảo Hoài H có nhiều mai vàng nên Th dừng xe. H bước xuống xe nhổ 01 cây mai vàng sau đó lên xe để Th điều khiển đem cây mai về nhà Th cất giấu. Trong lúc Th cất giấu cây mai vàng thì H điều khiển xe quay lại nhà của anh H tiếp tục nhổ 02 cây mai vàng đem về nhà của Th.

Theo kết luận định giá tài sản số 08/HĐ ngày 11/3/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Long Hồ kết luận: 01 cây mai vàng có bề hoành gốc 49cm, chiều cao 36cm, tán rộng 30cm; 01 cây mai vàng có bề hoành gốc 40cm, chiều cao 23cm, tán rộng 40cm; 01 cây mai vàng có bề hoành gốc 19cm, chiều cao 40cm mà H và Th trộm cắp của anh Trần Bảo Hoài H có tổng trị giá 4.200.000đ (Bốn triệu, hai trăm ngàn đồng).

Vụ thứ hai:

Vào khoảng 21 giờ ngày 08/11/2020, H rủ Th đi tìm mai vàng lấy trộm thì Th đồng ý. Th điều khiển xe môtô biển kiểm soát 64H1 - 0557 đến nhà của H chở H đi tìm mai vàng lấy trộm. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, khi đến đoạn đường thuộc ấp Phước Lợi A, xã Phước Hậu thì Th và H nhìn thấy phía trước nhà của ông Trần Phúc N có trồng 01 cây mai vàng nên Th dừng xe. H xuống xe dùng tay nhổ cây mai vàng cầm trên tay sau đó lên xe để Th điều khiển đem về nhà của Th cất giấu.

Theo kết luận định giá tài sản số 09/HĐ ngày 11/3/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Long Hồ kết luận: cây 01 cây mai vàng có bề hoành gốc 60cm, chiều cao 70cm, tán rộng 40cm mà H và Th trộm cắp của ông Trần Phúc N trị giá 2.000.000đ (Hai triệu đồng).

Vụ thứ ba:

Vào khoảng 20 giờ ngày 14/02/2021, H rủ Th đi tìm mai vàng để lấy trộm thì Th đồng ý. Th điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 64H1 - 0557 đến nhà của H chở H đi trên Quốc lộ 53 tìm mai vàng lấy trộm. Đến khoảng 22 giờ 15 phút cùng ngày, khi đến đoạn đường thuộc ấp Long Thuận A, xã Long Phước thì H phát hiện sân nhà của ông Trần Văn B có để nhiều mai vàng nên kêu Th dừng xe. Th dừng xe, H xuống xe quan sát không có ai nên H trèo qua hàng rào đột nhập vào sân nhà ông B. Th điều khiển xe chạy đi về nhà của Th. H dùng tay nhổ 01 cây mai vàng có trong sân và đưa ra hàng rào nhưng làm vướng cây mai phía trên hàng rào. H leo rào ra khỏi sân nhà rồi đợi Th quay lại và cùng Th đem cây mai xuống. Th điều khiển xe chở H cùng cây mai đem về nhà Th cất giấu.

Theo kết luận định giá tài sản số 05/HĐ ngày 17/02/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Long Hồ kết luận: cây 01 cây mai vàng có bề hoành gốc 0.4m, chiều cao 2.1m, tán rộng 1.2m mà H và Th trộm cắp của ông Trần Văn B trị giá 7.000.000đ (Bảy triệu đồng).

Quá trình điều tra, Phạm Minh H và Đặng Trường Th th khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tài sản đã được thu hồi hoàn trả lại cho bị hại. Riêng đối với 01 cây mai vàng của anh Trần Bảo Hoài H trong quá trình cất giấu tại nhà của Th đã chết, anh H yêu cầu bồi thường 1.000.000đ các bị can đã bồi thường xong.

Quá trình điều tra, Phạm Minh H và Đặng Trường Th còn khai nH vào khoảng tháng 11/2020, H và Th có lấy trộm 04 cây mai tại khu vực Phường 4, th phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Hồ đã thông báo cho Công an th phố Vĩnh Long để xử lý theo thẩm quyền.

Tại bản Cáo trạng số: 29/CT-VKS, ngày 28 tháng 8 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ truy tố các bị cáo Phạm Minh H và Đặng Trường Th về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Ý kiến của các bị cáo tại tòa:

Bị cáo H trình bày: Do cần tiền sử dụng chất ma túy nên bị cáo rủ Th đi trộm. Nhưng bị cáo không biết giá trị của cây mai nên đều giao cho Th quyết định, Th có ứng trước tiền cho bị cáo xài mỗi lần là 200.000đ và Th cũng không có nói việc sau này bán được mai sẽ xử lý ra sao.

Bị cáo Th trình bày: Bị cáo mua bán mai nên cũng biết giá trị của cây mai, có những khi H rủ đi trộm nhưng bị cáo thấy mai không đẹp nên có ý không đi, nhưng do H năn nỉ nên bị cáo mới đi trộm, phương tiện xe Dream là của bị cáo. Các cây mai trộm được đem về cho bị cáo cất giữ, bị cáo có chi trước cho H 200.000đ/ mỗi lần và không nói sẽ chi tiếp cho H bao nhiêu.

Lời sau cùng: Các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ý kiến bị hại Trần Phúc N: Tôi đã nH lại tài sản không có yêu cầu gì khác. Về hình phạt đề nghị Tòa án xử lý theo quy định pháp luật.

Ý kiến của Kiểm sát viên: Bảo lưu quan điểm bản Cáo trạng đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Minh H và Đặng Trường Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 điểm g, h khoản 1 Điều 52 ; Điều 38; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Minh H từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Áp dụng điều 65, Điều 56 bộ Luật hình sự tổng hợp hình phạt của 02 bản án và buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đặng Trường Th từ 09 tháng đến 01 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét do không có yêu cầu.

Về xử lý vật chứng: Giao cho cơ quan cảnh sát Điều tra công an huyện Long Hồ 01 xe mô tô biển số 63H1-0557 tiếp tục xác minh xử lý.

Án phí: Buộc mỗi bị cáo nộp 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm

NH ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nH định như sau:

[1] Về tố tụng:

Tất cả các quyết định, hành vi tố tụng, thủ tục từ giai đoạn phát hiện tội phạm đến truy tố bị cáo. Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng và đầy đủ theo qui định của pháp luật tố tụng hình sự. Không có khiếu nại từ phía người tham gia tố tụng.

[2. ]Về nội dung :

[2.1] Lời khai nH tại Tòa của các bị cáo phù hợp với các tài liệu trong hồ sơ vụ án như: Lời khai của bị can, lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng, biên bản thu giữ vật chứng, tài sản bị thiệt hại được định giá là 14.200.000đồng. Đủ căn cứ kết luận các bị cáo Phạm Minh H và Đặng Trường Th phạm tội trộm cắp tài sản. Bản cáo trạng số 29/CT-VKS ngày 28/4/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ truy tố các bị cáo theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng pháp luật.

Tài sản hợp pháp của công dân là quyền bất khả xâm phạm được pháp luật bảo vệ. Hành vi của các bị cáo rất nguy hiểm, các bị cáo đã đi tìm tòi và lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác, gây mất trật tự cho đời sống bình thường của mọi người. Các bị cáo là th phần đã từng bị kết án, là đối tượng có tiền sự. Do đó, việc xử lý nghiêm minh đối với các bị cáo là cần thiết, để lập lại trật tự xã hội.

Đây là vụ án có đồng phạm, trong vụ án các bị cáo tự phát cùng nhau đi chiếm đoạt tài sản, nên tính chất phạm tội của các bị cáo là ngang nhau. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện chiếm đoạt các cây mai, bị cáo H là người chủ động rủ rê và tìm hiểu tài sản trước khi chiếm đoạt, bị cáo thực hiện tội phạm trong thời gian đang chấp hành một bản án khác nên hình phạt của bị cáo phải cao hơn bị cáo Th.

[2.2] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo đã thực hiện việc chiếm đoạt tài sản của các bị hại là 03 lần. Các lần chiếm đoạt tài sản có giá trị 2.000.000đ trở lên, nên các bị cáo phải bị áp dụng tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên. Bị cáo H còn bị áp dụng tình tiết tái phạm.

[2.3] Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội các bị cáo th khẩn khai báo, tài sản đã được thu hồi hoàn trả cho bị hại và các khoản bồi thường các bị cáo đã khắc phục; Bị cáo H đã đầu thú, có bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết trên là tình tiết giảm nhẹ khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

[2.4] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa vắng mặt bị hại H và bị hại B quá trình Điều tra 02 bị hại này đã nH tài sản và tiền bồi thường không có yêu cầu khác. Bị hại Trần Phúc N tại phiên tòa cũng xác định không có yêu cầu bồi thường vì đã nH tài sản. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.5] Về xử lý vật chứng: Chiếc xe Dream 63H1-0557 là phương tiện phạm tội phải tịch thu sung quỹ, nhưng cơ quan điều tra chưa làm rõ nguồn gốc nên Hội đồng xét xử giao lại cơ quan Điều tra xử lý.

[2.6] Quan điểm của Kiểm sát viên tại tòa là có căn cứ nên được chấp nH.

[2.7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm

Vì các lẻ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Minh H, bị cáo Đặng Trường Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 17, Điều 38; Điều 58 ; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đặng Trường Th 01(một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/02/2021.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 17, Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h, g khoản 1 Điều 52; Điều 56; Điều 58; khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Minh H 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt với bản án số 38/2020/HS-ST ngày 02/7/2020 của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ đã xử phạt bị cáo Phạm Minh H 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thủ thách là 01 năm về tội trộm cắp tài sản; Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/02/2021

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự: Giao xe mô tô biển số 63H1-0557 cho cơ quan cảnh sát Điều tra công an Long Hồ tiếp tục xác minh xử lý.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án: Buộc bị cáo Phạm Minh H và bị cáo Đặng Trường Th mỗi bị cáo nộp 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm .

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo, bị hại có mặt tại tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Bị hại và người liên quan vắng mặt tại tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nH được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai. Nơi nH:

Cỡ chữ