- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức Anh phạm tội "Đe dọa giết người" - phạm tội đe dọa giết người (điều 133 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Về điều luật áp dụng:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2021/HSST Ngày 29 tháng 4 năm 2021. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Hòa.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Điểu Hoàng; Ông Sẳm Dắt Phắn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Quách Kim Lân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Thọ - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 4 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán, Tòa án nhân dân huyện Định Quán đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 183/2020/HSST ngày 18 tháng 12 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2020/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Đức A - sinh năm 1987, tại Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Khu phố H, thị trấn D, huyện Q, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Đức Tr – sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị S – sinh năm 1964; có vợ Đỗ Thị Thúy H – sinh năm 1987 (đã ly hôn) và 02 con (lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2016); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại từ đầu “có mặt”.
- Bị hại: Chị Đỗ Thị Thúy H, sinh năm 1987
Địa chỉ: Khu phố H, thị trấn D, huyện Q, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
- Người làm chứng: Ông Đỗ Quốc T – sinh năm 1959 và bà Vũ Thị H – sinh năm 1962.
Địa chỉ: Khu phố H, thị trấn D, huyện Q, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Đức A và chị Đỗ Thị Thúy H từng là vợ chồng có đăng ký kết hôn và giữa hai người có 02 con chung. Năm 2017, chị H và Nguyễn Đức A thuận tình ly hôn và được Tòa án nhân dân huyện Định Quán ra Quyết định Công nhận sự thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận giữa các đương sự số 309/2017/QĐST-HNGĐ ngày 21/12/2017.
Mặt dù đã ly hôn nhưng giữ chị H và bị cáo Đức A vẫn thường xuyên liên lạc, giúp đỡ nhau trong quá trình nuôi con chung. Phía bị cáo Đức A cũng nhiều lần thể hiện ý đinh hàn gắn tình cảm với chị H.
Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 30/4/2020, sau khi uống khoảng 04 lon bia thì Đức A nhắn tin rủ chị H sang nhà thăm các con nhưng chị H không đến. Đức A nảy sinh ý định mang xăng qua nhà chị H đe dọa nhằm mục đích làm cho chị H lo sợ mà quay lại sống chung với Đức A. Sau đó, Đức A sang chiết xăng từ xe máy vào 01 chai nhựa 1,5 lít và 01 chai thủy tinh 750ml rồi cầm 02 chai xăng và 01 hộp quẹt đi bộ qua nhà chị H.
Đến nơi, bị cáo Đức A đứng ngoài cửa gọi chị H ra nói chuyện, khi chị H đi ra thì Đức A nói với chị H có chịu quay lại sống với Đức A không, nếu không thì cả hai cùng chết. Chị H xô Đức A ra thì Đức A dùng tay trái kẹp cổ chị H kéo lại. Trong lúc giằng co, xăng trong chai nhựa 1,5 lít (chai không có nắp) đổ lên người chị H, lúc này chị H tri hô thì bà Vũ Thị H và ông Đỗ Quốc T - là mẹ, cha của chị H, chạy ra can ngăn nên chị H chạy vào nhà. Đức A cầm chai thủy tinh đập bể trước cổng nhà chị H để gây áp lực buộc chị H phải ra gặp bị cáo rồi đi bộ ra phía trước đường đợi. Nhận được tin báo của chị H, Công an thị trấn Định Quán bắt bị cáo Đức A cùng tang vật.
Tại bản cáo trạng số 83/CT-VKSĐQ ngày 20/7/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức A về tội “Đe dọa giết người”, được quy định tại khoản 1 Điều 133 Bộ luật Hình sự.
Tại Quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung số 36/2020/HSST-QĐ ngày 28/8/2020, Tòa án huyện Định Quán đã trả hồ sơ điều tra bổ sung, nội dung: Chị Đỗ Thị Thúy H xác định là vợ chồng sống nhiều năm với bị cáo Nguyễn Đức A nên chị hiểu rõ tính cách của bị cáo chỉ dọa chứ không dám giết chị nên chị không lo sợ việc đe dọa của bị cáo sẽ được thực hiện. Như vậy, dấu hiệu “Làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện” là chưa rõ ràng, chưa đảm bảo vê định tội danh.
Sau khi điều tra bổ sung, tại văn bản số 291/CV-VKSĐQ ngày 06/12/2020, VKSND huyện Định Quán đã giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố và chuyển hồ sơ để Tòa án xét xử theo thủ tục chung.
Tại phiên tòa, việc tranh tụng diễn ra như sau:
1/ Kiểm sát viên giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 133; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 10 tháng đến 01 năm tù.
Kiểm sát viên còn phát biểu quan điểm về xử lý vật chứng và án phí.
2/ Bị cáo Nguyễn Đức A thành khẩn nhận tội và xin giảm nhẹ hình phạt. Ngoài các tình tiết đã được Cáo trạng nêu thì bị cáo thừa nhận không còn tình tiết giảm nhẹ nào khác.
3/ Bị hại Đỗ Thị Thúy H xác định khi bị cáo đổ xăng lên người chị thì chị rất lo sợ đến tính mạng nên đã hô hoán cầu cứu mẹ mình; sau khi thoát khỏi bị cáo, chị đã chạy vào nhà và gọi điện báo công an đến can thiệp. Do là vợ chồng với nhau và bị cáo đang nuôi 02 chung nên chị xin Tòa án miễn hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; chị không yêu cầu bị cáo bồi thường gì.
3/ Người làm chứng Đỗ Thị H: Khi đang trong nhà thì bà nghe tiếng chị H – con gái bà, la cứu thất thanh. Bà ra thấy bị cáo đang dùng tay kẹp cổ chị H, bà can ngăn thì chị H mới chạy thoát được vào nhà.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Định Quán, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đức A và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ để kết tội đối với bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đức A đã thành khẩn khai nhận tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; phù hợp với bản cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán đã truy tố bị cáo nên Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 30/4/2020, tại khu phố Hiệp Tâm 2, thị trấn Định Quán, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai, do bực tức việc chị Đỗ Thị Thúy H không chịu quay lại chung sống nên bị cáo Nguyễn Đức A mang 02 chai xăng qua nhà đe dọa giết chị H làm chị H lo sợ. Hành vi của bị cáo Nguyễn Đức A đã cấu thành tội “Đe dọa giết người”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 133 Bộ luật hình sự nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật trên là đúng người, đúng tội, không làm oan cho bị cáo.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Xét thấy sức khỏe là vốn quý của con người được pháp luật bảo vệ. Hành vi đe dọa giết người của bị cáo Nguyễn Đức A không những đã làm cho chị Đỗ Thị Thúy H lo sợ tính mạng bị xâm phạm mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, nguy hiểm cho xã hội. Việc xét xử và tuyên bị cáo một hình phạt tương xứng để vừa trừng trị bị cáo, vừa để răn đe phòng ngừa chung trong xã hội là cần thiết.
Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Nguyễn Đức A thì thấy rằng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị hại xin miễn hoặc giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên Tòa án cũng xem xét giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo Nguyễn Đức A là người có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và có nơi cư trú rõ ràng; giữa bị cáo và bị hại từng là vợ chồng, hiện vẫn còn mối quan hệ nuôi dưỡng con chung. Không những vậy, bị cáo là lao động chính và chị H xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên không nhất thiết cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ răn đe bị cáo đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Đức A đang nuôi 02 con nhỏ, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên được miễn khấu trừ thu nhập.
Về biện pháp tư pháp:
- Vật chứng: 01 chai nhựa 1,5 lít bên trong còn 300ml xăng; 04 mảnh thủy tinh; 01 hộp quẹt ga màu xanh có chữ Viva Giang Đạt Thành; 01 áo thun màu xanh đậm, ngắn tay (Bút lục số 12). Xét giá trị sử dụng không lớn nên tịch thu tiêu hủy.
- Trách nhiệm deaan sự: Chị Đỗ Thị Thúy H không yêu cầu bị cáo bồi thường gì nên Tòa án không xem xét.
Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán:
Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là hợp tình, hợp lý nên được chấp nhận. Tuy nhiên về hình phạt thì Tòa án chỉ áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ là đủ nghiêm.
Bị cáo Nguyễn Đức A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Về điều luật áp dụng:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 133; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
2/ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức A phạm tội “Đe dọa giết người”.
3/ Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức A 03 (ba) năm cải tạo không giam giữ; thời gian cải tạo tính từ ngày thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân thị trấn Định Quán, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai nhận được bản án, quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Nguyễn Đức A cho Ủy ban nhân dân thị trấn Định Quán, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo.
Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Nguyễn Đức A.
4/ Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 chai nhựa 1,5 lít bên trong còn 300ml xăng; 04 mảnh thủy tinh; 01 hộp quẹt ga màu xanh có chữ Viva Giang Đạt Thành; 01 áo thun màu xanh đậm, ngắn tay.
5/ Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6/ Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Đức A, bị hại Đỗ Thị Thúy H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: TAND tỉnh Đồng Nai. VKSND tỉnh Đồng Nai. VKSND huyện Định Quán. Công an huyện Định Quán. Chi cục THA huyện Định Quán. Bị cáo, bị hại. Lưu hồ sơ, VP. | Lê Xuân Hòa |