- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đặng Thị T - Nguyễn Mạnh H"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử bác yêu cầu ly hôn của chị Đặng Thị T với anh Nguyễn Mạnh H.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP Hướng…; Luật Phí và lệ phí
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH TỈNH HẢI DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2021/HNGĐ-ST Ngày: 24 - 8 - 2021 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Kim Giang;
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Mạc Thị Ngân
2. Bà Phạm Thị Trúc Phƣơng
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 8 năm 2021 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 77/2021/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 4 năm 2021 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 31/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 26/7/2021 giữa các đƣơng sự:
1. Nguyên đơn: Chị Đặng Thị T, sinh năm 1984;
Nơi ĐKHKTT: Khu dân cƣ N, phƣờng S, thành phố C, tỉnh Hải Dƣơng;
Nơi ở hiện nay: Khu dân cƣ T, phƣờng Đ, thành phố C, tỉnh Hải Dƣơng.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1986;
Địa chỉ: Số nhà 3, ngõ 1, đƣờng T, khu dân cƣ N, phƣờng S, thành phố C, tỉnh Hải Dƣơng.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ủy ban nhân dân phƣờng S
Ngƣời đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hoài B - Chức vụ: Chủ tịch
Địa chỉ: Số 289 T, phƣờng S, thành phố C, tỉnh Hải Dƣơng.
3.2. Chị Dƣơng Thị T1, sinh năm 1984;
Địa chỉ: Số nhà 9, ngõ 6, đƣờng T, khu dân cƣ N, phƣờng S, thành phố C, tỉnh Hải Dƣơng.
- Những người làm chứng:
+ Bà Trần Thị P, sinh năm 1959;
Địa chỉ: Số nhà 3, ngõ 1, đƣờng T, khu dân cƣ N, phƣờng S, thành phố C, tỉnh Hải Dƣơng.
+ Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1955;
Địa chỉ: Số nhà 9, ngõ 6, đƣờng T, khu dân cƣ N, phƣờng S, thành phố C, tỉnh Hải Dƣơng.
Chị T, anh H, ông B, chị T1, bà P, bà H đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 14/4/2021, bản tự khai và ý kiến tại các buổi làm việc với Tòa án, chị Đặng Thị T trình bày:
Chị và anh Nguyễn Mạnh H chung sống với nhau từ năm 2012 và đƣợc hai bên gia đình tổ chức lễ cƣới theo phong tục tập quán địa phƣơng. Trƣớc đó, chị đã chung sống với một ngƣời đàn ông khác nhƣng không đăng ký kết hôn. Sau khi ngƣời đàn ông này chết thì chị gặp anh H. Chị đƣợc biết anh H đã có vợ là chị Dƣơng Thị T1 nhƣng anh H và gia đình anh H nói là anh H đã ly hôn với chị T1 xong. Do vậy, chị và anh H đã về chung sống với nhau và có tổ chức lễ cƣới theo phong tục tập quán địa phƣơng. Sau ngày cƣới, vợ chồng chung sống tại nhà bố mẹ đẻ anh H ở số nhà 3, ngõ 1, đƣờng T, phƣờng S, thành phố C, tỉnh Hải Dƣơng. Sau khi chị và anh H có con thì đến ngày 07/02/2017, chị và anh H mới đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phƣờng S. Khi đăng ký kết hôn, chị có nộp tờ khai đăng ký kết hôn và ký vào giấy chứng nhận kết hôn và sổ đăng ký kết hôn. Còn thủ tục cụ thể thế nào thì chị cũng không nhớ rõ.
Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng chung sống bình thƣờng. Đến khi chị sinh con thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh H đã bắt đầu mải chơi, hay uống rƣợu, không lo lắng gì tới gia đình và thƣờng xuyên đánh chửi, xúc phạm chị. Giữa chị và phía gia đình chồng cũng thƣờng xuyên xảy ra bất hòa. Từ tháng 4/2019, chị về nhà bố mẹ đẻ ở khu dân cƣ T, phƣờng Đ, thành phố C ở. Vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Nay chị xác định vợ chồng không còn tình cảm và không thể về đoàn tụ đƣợc. Do vậy, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị đƣợc ly hôn anh H. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Mạnh T, sinh ngày 27/3/2015. Hiện tại, con chung đang do chị trực tiếp nuôi dƣỡng. Nếu ly hôn, chị đề nghị đƣợc tiếp tục nuôi dƣỡng con chung. Chị không yêu cầu anh H phải cấp dƣỡng nuôi con chung với chị. Hiện tại, chị đang bán hàng tại nhà, thu nhập bình quân khoảng 7.000.000đ/tháng. Chị ở chung với bố mẹ đẻ chị. Bố mẹ chị cũng tạo điều kiện cho chị về chỗ ở cũng nhƣ hỗ trợ chị chăm sóc con. Chị hoàn toàn có đủ khả năng để chăm sóc tốt cho con. Về quan hệ tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Anh Nguyễn Mạnh H đã đƣợc Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhƣng không đến làm việc.
- Tại biên bản lấy lời khai ngày 07/7/2008, chị Dƣơng Thị T1 trình bày: Chị và anh H đăng ký kết hôn với nhau ngày 30/7/2008 và có đăng ký kết hôn tại Ủy an nhân dân phƣờng S trên cơ sở tự nguyện. Sau đó, vợ chồng chung sống tại nhà bố mẹ đẻ anh H ở số nhà 3, ngõ 1, đƣờng T, khu dân cƣ N, phƣờng S, thành phố C, tỉnh Hải Dƣơng. Do mâu thuẫn gia đình nên chị đã về nhà mẹ đẻ ở. Vợ chồng sống ly thân. Năm 2012, do vợ chồng không còn tình cảm nên chị có làm đơn xin ly hôn với anh H, nhƣng anh H không đến tòa án làm việc. Do vậy, chị đã rút đơn ly hôn. Sau đó, anh H lại làm đơn ly hôn với chị gửi vào tòa nhƣng lại rút đơn. Chị và anh H hiện tại vẫn chƣa ly hôn xong. Vợ chồng từ đó đến nay vẫn sống ly thân và không còn quan tâm đến nhau. Nay chị đƣợc biết là anh H đã đăng ký kết hôn với chị T và chị T hiện đang xin ly hôn với anh H, quan điểm của chị là đề nghị Tòa án cứ giải quyết theo quy định pháp luật.
- Quá trình làm việc, Ủy ban phƣờng S cung cấp: Bản sao sổ đăng ký kết số 01 năm 2008, tại số thứ tự 113 thể hiện anh Nguyễn Mạnh H và chị Dƣơng Thị T1 có đăng ký kết hôn với nhau ngày 30/7/2008, chƣa thể hiện anh H và chị T1 đã ly hôn. Sổ đăng ký kết hôn số 01 năm 2017, số thứ tự 15, thể hiện anh Nguyễn Mạnh H và chị Đặng Thị T có đăng ký kết hôn với nhau ngày 07/02/2017. Trong sổ thể hiện chị T, anh H đăng ký kết hôn lần thứ nhất. Ngoài ra, Ủy ban nhân dân phƣờng S còn cung cấp hồ sơ đăng ký kết hôn giữa chị T và anh H gồm có: Tờ khai đăng ký kết hôn ngày 07/02/2017 thể hiện chị T, anh H kết hôn lần thứ nhất; 01 giấy xác nhận tình trạng hôn nhân ngày 06/02/2017 của Ủy ban nhân dân xã Đ xác nhận đối với chị T.
Theo quan điểm của Ủy ban nhân dân phƣờng S việc đăng ký kết hôn giữa chị T và anh H khi anh H và chị T1 chƣa ly hôn là vi phạm chế độ một vợ một chồng. Nguyên nhân là do việc khai báo không trung thực từ phía anh H. Ủy ban phƣờng sẽ xem xét để xử lý trách nhiệm của những ngƣời liên quan. Còn hiện tại chị T xin ly hôn anh H và đề nghị giải quyết việc nuôi con, quan điểm của Ủy ban nhân dân phƣờng là đề nghị Tòa án cứ tiến hành giải quyết theo quy định pháp luật.
- Bà Nguyễn Thị H - mẹ đẻ chị T1 xác định chị T1 và anh H đăng ký kết hôn ngày 30/7/2008 tại UBND phƣờng Sao Đỏ. Sau đó, do mâu thuẫn nên chị T1 và anh H đã sống ly thân và làm đơn xin ly hôn gửi đến tòa án. Không hiểu tại sao sau đó chị T1 và anh H lại rút đơn. Hiện tại, chị T1 và anh H vẫn chƣa ly hôn. Sau này, gia đình bà đƣợc biết anh H có kết hôn và chung sống với chị T, nhƣng do gia đình bà xác định chị T1 và anh H không đoàn tụ với nhau đƣợc nên không có ý kiến gì. Nay chị T xin ly hôn anh H, quan điểm của bà là đề nghị Tòa án cứ giải quyết theo quy định pháp luật.
- Bà Trần Thị P - mẹ đẻ anh H xác định: Năm 2008, anh H có đăng ký kết hôn với chị Dƣơng Thị T1. Do mâu thuẫn nên chị T1 và anh H sống ly thân. Đến năm 2012, anh H và chị T1 có làm đơn ly hôn gửi đến tòa án, nhƣng bà không rõ là anh H và chị T1 đã ly hôn xong chƣa. Cũng trong năm 2012, anh H chung sống với chị T, sau đó đến năm 2017 thì đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phƣờng S. Chị T1 và gia đình chị T1 biết nhƣng cũng không có ý kiến gì. Quá trình chung sống chị T và anh H mâu thuẫn thế nào thì bà không nắm đƣợc, chỉ biết là vợ chồng sống ly thân hơn một năm nay. Nay chị T xin ly hôn anh H, quan điểm của bà là đề nghị tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Về con chung: Bà P xác định vợ chồng chị T, anh H có 01 con chung là Nguyễn Mạnh T, sinh ngày 27/3/2015. Hiện tại, con chung đang do chị T trực tiếp nuôi dƣỡng. Nếu ly hôn, quan điểm của bà là nên giao cho chị T trực tiếp nuôi dƣỡng vì anh H công việc không ổn định, gia đình bà cũng khó khăn nên không giúp đỡ đƣợc gì. Hiện tại chị T vẫn chăm sóc tốt cho con.
- Tại biên bản xác minh với ông Nguyễn Đức P - Cán bộ phụ trách kho lƣu trữ của Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh thể hiện: Ngày 03/4/2012, tòa án đã thụ lý vụ án ly hôn số 67/2012/TLST-HNGĐ giữa chị Dƣơng Thị T1 và anh Nguyễn Mạnh H, sau đó, chị T1 xin rút đơn khởi kiện và tòa án đã ra Quyết định đình chỉ vụ án số 17/2012/QĐST-HNGĐ ngày 19/4/2012; Ngày 15/8/2012, tòa án thụ lý vụ án vụ ly hôn số 198/2012/TLST-HNGĐ giữa anh H và chị T1. Sau đó, anh H lại rút đơn và Tòa án đã ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 48/2012/QĐST-HNGĐ ngày 30/8/2012. Hiện tại, chị T1 và anh H chƣa giải quyết ly hôn xong.
Tại phiên toà:
Chị T, chị T1, đại diện Ủy ban nhân dân phƣờng S vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh H đƣợc triệu tập hợp lệ nhƣng vắng mặt lần thứ 2 không có lý do.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử kể từ thời điểm thụ lý vụ án đến trƣớc thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Về đƣờng lối giải quyết đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 5, Điều 8, Điều 10, Điều 11, Điều 12, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 3 Điều 4 Thông tƣ liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Về quan hệ hôn nhân: Xử bác yêu cầu ly hôn của chị Đặng Thị T với anh Nguyễn Mạnh H. Hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa chị Đặng Thị T và anh Nguyễn Mạnh H. Chị Đặng Thị T và anh Nguyễn Mạnh H phải chấm dứt quan hệ nhƣ vợ chồng. Về con chung: Xử giao con chung là Nguyễn Mạnh T, sinh ngày 27/3/2015 cho chị Đặng Thị T tiếp tục trực tiếp nuôi dƣỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn Mạnh H không phải cấp dƣỡng nuôi con chung với chị T. Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai đƣợc cản trở anh H thực hiện quyền này. Về tài sản chung: Không đặt ra giải quyết. Về án phí: Chị Đặng Thị T phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, nghe ý kiến của đƣơng sự và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn và những ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã đƣợc Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đƣa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn, giấy triệu tập đến tham gia tố tụng tại phiên tòa. Chị T, chị T1, đại diện Ủy ban nhân dân phƣờng S có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Anh H đã đƣợc tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhƣng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt tất cả những ngƣời tham gia tố tụng.
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Anh Nguyễn Mạnh H cƣ trú tại: Khu dân cƣ N, phƣờng S, thành phố C, tỉnh Hải Dƣơng. Chị T khởi kiện xin ly hôn anh H và đề nghị giải quyết về việc nuôi con chung, do vậy, đây là vụ án về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn. Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh thụ lý giải quyết vụ án là đúng với thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị T và anh Nguyễn Mạnh H đăng ký kết hôn với nhau ngày 07/02/2017 tại Ủy ban nhân dân phƣờng S khi anh H và chị Dƣơng Thị T1 đang là vợ chồng. Do vậy, việc kết hôn của chị T với anh H đã vi phạm điều cấm của pháp luật cũng nhƣ điều kiện kết hôn quy định tại điểm c khoản 2 Điều 5, điển d khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân gia đình. Mặc dù, chị T yêu cầu đƣợc ly hôn anh H, nhƣng xét việc kết hôn của chị T và anh H là trái pháp luật. Do vậy, cần căn cứ vào Điều 10, Điều 11, Điều 12 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 3 Điều 4 Thông tƣ liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016, xử bác yêu cầu ly hôn của chị T và quyết định hủy kết hôn trái pháp luật giữa chị T và anh H.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Mạnh T, sinh ngày 27/3/2015. Hiện tại, con chung đang do chị T trực tiếp nuôi dƣỡng. Chị T đề nghị đƣợc tiếp tục nuôi dƣỡng cả con chung và không yêu cầu anh H phải cấp dƣỡng nuôi con chung với chị. Xét điều kiện hoàn cảnh hiện tại: Chị T đang bán hàng tại nhà, có thu nhập và chỗ ở ổn định. Con chung là Nguyễn Mạnh T đƣợc chị T trực tiếp nuôi dƣỡng từ nhỏ đến nay, khỏe mạnh, ngoan ngoãn và đƣợc học hành đầy đủ. Anh H làm lao động tự do, thu nhập không ổn định và không đƣợc sự hỗ trợ, giúp đỡ từ phía gia đình. Do vậy, cần căn cứ Điều 12, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận theo yêu cầu của chị T về việc giao con cho chị T tiếp tục nuôi dƣỡng để đảm bảo tính ổn định cũng nhƣ quyền lợi mọi mặt của con chung. Chị T không yêu cầu anh H phải cấp dƣỡng nuôi con chung với chị, đây là ý kiến tự nguyện của chị T, không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên đƣợc chấp nhận. Anh H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai đƣợc cản trở.
Về quan hệ tài sản: Các đƣơng sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra việc xem xét, giải quyết.
Đối với việc đăng ký kết hôn giữa chị T và anh H là vi phạm điều cấm quy định tại điểm c khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình; có dấu hiệu của việc vi phạm hành chính. Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh đã làm công văn gửi Ủy ban nhân dân phƣờng S xem xét để giải quyết theo thẩm quyền.
Về án phí: Chị Đặng Thị T là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 5, Điều 8, Điều 10, Điều 11, Điều 12, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 3 Điều 4 Thông tƣ liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử bác yêu cầu ly hôn của chị Đặng Thị T với anh Nguyễn Mạnh H.
Hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa chị Đặng Thị T và anh Nguyễn Mạnh H.
Chị Đặng Thị T và anh Nguyễn Mạnh H phải chấm dứt quan hệ nhƣ vợ chồng.
2. Về con chung: Xử giao con chung là Nguyễn Mạnh T, sinh ngày 27/3/2015 cho chị Đặng Thị T tiếp tục trực tiếp nuôi dƣỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn Mạnh H không phải cấp dƣỡng nuôi con chung với chị T.
Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai đƣợc cản trở anh H thực hiện quyền này.
3. Về tài sản chung: Không đặt ra giải quyết.
4. Về án phí: Chị Đặng Thị T phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, đƣợc đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ mà chị T đã nộp theo biên lai thu số: AA/2018/0002858 ngày 14/4/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng. Chị T đã nộp đủ án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc ngày bản án đƣợc niêm yết. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày nhận đƣợc bản án hoặc kể từ ngày bản án đƣợc niêm yết./.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Chí Linh; - Chi cục THADS thành phố Chí Linh; - UBND phƣờng S (Để ghi sổ hộ tịch); - Các đƣơng sự; - Lƣu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Kim Giang |