- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Thị Nhung và Lê Văn Thành ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị Nh được ly hôn với anh Lê Văn Th.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2021/HNGĐ – ST Ngày: 31 – 8 – 2021 (V/v Ly hôn) |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Duy Biên
2. Ông Nguyễn Văn Dương
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Viết Chiến – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Lê Ngọc Trung – Kiểm sát viên.
Trong ngày 31 tháng 8 năm 2021, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 80/2021/TLST – HNGĐ ngày 19/3/2021 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2021/QĐXXST – HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 16/2021/QĐST – HNGĐ ngày 20 tháng 8 năm 2021 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Nh – Sinh năm: 1986 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Xóm YQ, xã DN, huyện DC, tỉnh Nghệ An
2. Bị đơn: Anh Lê Văn Th – Sinh năm: 1981 (Vắng)
Địa chỉ: TDP TrC, phường HH, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Về hôn nhân:
- Theo đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn là chị Hoàng Thị Nh trình bày:
Chị và anh Lê Văn Th cùng đi làm công nhân trong Miền Nam, anh chị quen nhau và sau một thời gian ngắn tự nguyện tìm hiểu đã quyết định đi đến hôn nhân. Anh chị thực hiện đăng ký kết hôn ngày 09/01/2011 tại UBND xã DN, huyện DC, tỉnh Nghệ An nhưng không tổ chức đám cưới mà sau đó lại quay vào Miền Nam sinh sống, làm ăn. Do thời gian tìm hiểu nhau ngắn, hai người chưa thực sự hiểu và thông cảm cho nhau nên cuộc sống vợ chồng chỉ hạnh phúc được khoảng 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị Nh là do anh Th không chịu tu chí làm ăn mà lại thường xuyên rượu chè, ăn nhậu say xỉn rồi về nhà chửi bới, đánh đập chị Nh. Đã nhiều năm liền chị Nh phải chịu đựng cảnh sống bị đánh đập mà không có hạnh phúc. Cùng với đó là việc anh Th mắc bệnh vô sinh không thể có con, mặc dù hai vợ chồng đã đi thăm khám ở nhiều bệnh viện nhưng đều không có kết quả. Điều này cũng làm mất dần tình cảm giữa hai vợ chồng. Đến mãi đầu năm 2020 khi xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh Th và không còn có thể tiếp tục chịu đựng cảnh sống không hạnh phúc nữa thì chị Nh mới bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở xã DN, huyện DC, tỉnh Nghệ An sinh sống và sau đó chị làm đơn đến TAND thị xã Nghi Sơn xin được giải quyết ly hôn với anh Th.
* Tại phiên tòa vắng mặt anh Lê Văn Th. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Th từ chối không hợp tác với Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, mặc dù anh Th đã được gia đình thông báo cho biết việc chị Nh đang yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn đối với anh. Do không làm việc được với anh Th nên Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ từ bà Vũ Thị L (là mẹ đẻ của anh Th). Quá trình làm việc với Tòa án, bà Vũ Thị L cung cấp lời khai với nội dung: Anh Th và chị Nh là vợ chồng hợp pháp, anh chị đăng ký kết hôn tại xã DN, huyện Diện Châu, tỉnh Nghệ An nhưng không tổ chức cưới. Sau đó hai vợ chồng vào lại Miền Nam sinh sống, hàng năm đều về thăm bà và gia đình. Bà L cũng thừa nhận việc anh Th bị bệnh vô sinh không thể sinh con. Tuy nhiên việc anh chị có mâu thuẫn như thế nào để dẫn đến ly hôn thì bà L không biết. Bà L cũng cho biết anh Th không nói địa chỉ của anh Th ở đâu.
2.Về con chung: Chị Nh trình bày chị và anh Th không có con chung.
3.Về tài sản: Chị Nh trình bày vợ chồng không có tài sản chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
*Quan điểm của đại điện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn tại phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn là anh Lê Văn Th: Mặc dù tại thời điểm giải quyết vụ án, anh Th không có mặt tại địa phương tuy nhiên hồ sơ thể hiện Tòa án đã thực hiện đầy đủ các bước để xác minh, thu thập chứng cứ cần thiết cho việc giải quyết vụ án. Qua đó, đã thu thập lời khai của bà Vũ Thị L mẹ đẻ của anh Th để biết được tình trạng hôn nhân của vợ chồng anh Th và chị Nh. Bà L cũng thừa nhận đã có thông báo cho anh Th biết việc chị Nh khởi kiện xin được giải quyết ly hôn với anh Th. Song anh Th từ chối hợp tác, từ chối cung cấp địa chỉ để Tòa án làm việc. Hiện tại, anh Th vẫn có hộ khẩu thường trú tại hộ gia đình bà Vũ Thị L tại tổ dân phố TrC, phường HH, thị xã Nghi Sơn, việc anh Th đi làm ăn trong Miền Nam là không cố định về thời gian và chỗ ở bởi anh vẫn đi đi về về.
Như vậy, căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị Quyết số: 04/2017/Nq – HĐTP ngày 05/5/2017 của HĐTP TANDTC, Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn vẫn thụ lý vụ án và giải quyết theo thủ tục chung là hoàn toàn đúng quy định pháp luật.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ vào các Điều 51; 56 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 28; Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề gnhị HĐXX chấp nhận đơn khởi kiện của chị Hoàng Thị Nh.
- Về hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị Nh được ly hôn với anh Lê Văn Th.
- Về con chung và tài sản chung: Do anh chị không có con chung và tài sản chung nên đề nghị HĐXX không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX xét thấy:
Về tố tụng: Tại thời điểm Tòa án thụ lý vụ án, anh Th không có mặt tại địa phương tuy nhiên qua xác minh tại địa phương và người thân của anh Lê Văn Th là bà Vũ Thị L (Mẹ đẻ anh Th) được biết: Bà L thừa nhận đã có thông báo cho anh Th biết việc chị Nh khởi kiện xin được giải quyết ly hôn với anh Th. Song anh Th từ chối hợp tác, từ chối cung cấp địa chỉ để Tòa án làm việc. Hiện tại, anh Th vẫn có hộ khẩu thường trú tại hộ gia đình bà Vũ Thị L tại tổ dân phố TrC, phường HH, thị xã Nghi Sơn, việc anh Th đi làm ăn trong Miền Nam là không cố định về thời gian và chỗ ở bởi anh vẫn đi đi về về.
Như vậy, căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị Quyết số: 04/2017/Nq – HĐTP ngày 05/5/2017 của HĐTP TANDTC, Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn vẫn thụ lý vụ án và giải quyết theo thủ tục chung là hoàn toàn đúng quy định pháp
Để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp cho anh Th, Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải để anh Th biết mà thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình. Tuy nhiên, anh Th vẫn từ chối các yêu cầu làm việc của Tòa án cũng như từ chối cung cấp Bản tự khai cho Tòa án.
- Về việc vụ án thuộc trường hợp không thể tiến hành hòa giải được và việc vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Xác định vụ án không thể tiến hành hòa giải để các bên đương sự giải quyết vụ án nên Tòa án đã ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử, thực hiện niêm yết hợp lệ cho anh Lê Văn Th. Đến ngày mở phiên tòa xét xử vụ án, anh Th vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án đã phải ra Quyết định hoãn phiên tòa và thực hiện niêm yết cho anh Th theo quy định của tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, anh Th vẫn vắng mặt không có lý do. Đối với nguyên đơn là chị Hoàng Thị Nh, hiện tại do tình hình dịch bệnh Covid đang có diễn biến phức tạp, tình trạng lây nhiễm khó kiểm soát nên chị Nh đã có đơn xin được xử vắng mặt và chị xin được giữ nguyên quan điểm của mình như trong đơn khởi kiện và bản tự khai đã cung cấp cho Tòa án. Vì vậy, căn cứ vào quy định tại khoản 2 Điều 207; khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự ,TAND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa tiến hành đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định của pháp luật.
- Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn là chị Hoàng Thị Nh khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn đối với bị đơn là anh Lê Văn Th, anh Th có hộ khẩu thường trú tại TDP TrC, phường HH, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự, Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa thụ lý và giải quyết đơn xin ly hôn của chị Hoàng Thị Nh là đúng quy định của pháp luật.
Về hôn nhân: Xác định quan hệ hôn nhân giữa chị Hoàng Thị Nh và anh Lê Văn Th là hôn nhân hợp pháp. Bởi lẽ anh chị tự do tìm hiểu, tuy không tổ chức cưới nhưng anh chị có thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn hoàn toàn tự nguyện vào ngày 09/01/2011 tại UBND xã DN, huyện DC, tỉnh Nghệ An.
* Về mâu thuẫn vợ chồng: Sau khi đăng ký kết hôn xong thì anh Th và chị Nh quay lại Miền Nam sinh sống, làm việc và sống hạnh phúc được khoảng 01 năm thì bắt đẩu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân sâu xa theo chị Nh là do anh Th bị vô sinh, nên anh sinh ra chán nản rồi thường xuyên bỏ bê công việc, ăn nhậu say xỉn rồi về nhà đánh đập chửi bới chị Nh. Chị Nh đã cố gắng chịu đựng cuộc sống không hạnh phúc bên cạnh anh Th gần 10 năm trời mới quyết định ra đi.
Mặc dù quá trình giải quyết vụ án, anh Th từ chối hợp tác nhưng qua các nguồn thông tin thu thập được từ phía gia đình anh Th thì Tòa án cũng đã phần nào thấy được tình trạng hôn nhân của anh Th và chị Nh là không thể tiếp tục có hạnh phúc. Bởi chị Nh đã về nhà bố mẹ đẻ ở gần 02 năm nay, anh Th cũng không có hành động để nảo để níu kéo cuộc hôn nhân với chị Nh. Hơn nữa khi được gia đình thông báo về việc chị Nh đang làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với mình, anh Th nếu muốn đoàn tụ, nếu còn tình cảm vợ chồng với chị Nh thì ít nhiều anh cũng phải liên lạc với chị Nh hoặc đến Tòa án trình bày quan điểm, nguyện vọng của mình để Tòa án tổ chức hòa giải, động viên cho chị Nh quay về. Tuy nhiên, anh Th lại để mặc sự việc diễn ra. Qua đó để thấy được rằng chính bản thân anh Th cũng không còn thiết tha gì với cuộc hôn nhân này nữa.
Như vây, việc xử cho chị Nh được ly hôn với anh Th cũng là hoàn toàn phù hợp.
Về con chung: Vợ chồng không có con chung nên HĐXX không xem xét.
Về tài sản: Vợ chồng không có tài sản chung nên HĐXX không xem xét.
Về án phí: Trong vụ án này, chị Nh phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Dành quyền kháng cáo cho các đương sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27, tiểu mục 1.1 mục 1 phần II danh mục án phí, lệ phí Tòa án - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị Nh được ly hôn với anh Lê Văn Th.
2. Án phí: Chị Hoàng Thị Nh phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số AA/2019/0005171 ngày 19/3/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Chị Nh đã nộp đủ án phí theo biên lai nói trên.
3. Án xử công khai sơ thẩm. Tuyên bố các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án..
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hoá; - VKSND thị xã Nghi Sơn; - Chi cục THADS thị xã Nghi Sơn; - Các đương sự; - UBND xã DN, huyện DC, tỉnh Nghệ An; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thanh Nga |