vanban.org

Bản án 31/2021/HNGĐ-ST — Các yêu cầu trong trường hợp chưa có điều kiện áp dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Các Điều 9, Điều 14 và Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 28, 35, 39, 147, 227 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L về việc: “Không công nhận vợ chồng”. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Văn H không phải là vợ chồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Các yêu cầu trong trường hợp chưa có điều kiện áp dụng — án hôn nhân và gia đình — "Không công nhận vợ chồng"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Các Điều 9, Điều 14 và Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 28, 35, 39, 147, 227 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ PHÚ MỸ
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2021/HNGĐ-ST
Ngày 29-3-2021
V/v “Không công nhận vợ chồng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Xuân Thường

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đỗ Thị Minh Thúy

2. Ông Nguyễn Thế Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Trần Quang Minh – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 445/2020/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2020 về “Yêu cầu không công nhận vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2021 giữa:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1987 (Có mặt)

Địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã C, huyện An Phú, tỉnh An Giang

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1972 (Vắng mặt – Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ O, khu phố R, phường P, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị L trình bày:

Bà và ông H tổ chức đám cưới, chung sống như vợ chồng với nhau từ năm 2011, nhưng không đăng ký kế hôn. Bà và ông H chung sống hạnh phúc đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn.

Nguyên nhân mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, cách sống, bất đồng cách nuôi dạy con, tình cảm phai nhạt dần nên bà và ông H không sống chung với nhau từ năm 2012 cho đến nay.

Do hoàn cảnh gia đình quá khó khăn nên bà giao con chung cho ông H nuôi dưỡng. Trong thời gian ly thân bà có thăm con nhưng không có ý định hàn gắn gia đình.

Nay nhận thấy không còn tình cảm với ông H nữa nên đề nghị Tòa án tuyên bố bà và ông H không phải vợ chồng.

- Về con chung: Bà và ông H chung sống với nhau có 01 con chung là cháu Nguyễn Trường Y, sinh ngày 06/9/2012, sau khi Tòa án tuyên bố bà và ông H không phải là vợ chồng, bà đồng ý giao con chung cho ông H trực tiếp nuôi đến tuổi trưởng thành (Đủ 18 tuổi), bà không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình tham gia tố tụng bị đơn ông Nguyễn Văn H trình bày:

Quá trình chung sống, ông và bà L tự nguyện tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới nhưng không làm thủ tục đăng ký kết hôn và chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 2011 đến năm 2012 thì mâu thuẫn cho đến nay.

Ông đề nghị Tòa án tuyên bố cho ông và bà Nguyễn Thị L không phải là vợ chồng.

Về con chung: Quá trình chung sống giữa ông và bà L 01 con chung là Nguyễn Trường Y, sinh ngày 06/9/2012, sau khi Tòa án tuyên bố ông và bà L không phải là vợ chồng, ông có nguyện vọng trực tiếp nuôi cháu Y đến tuổi trưởng thành (Đủ 18 tuổi) và không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án:

- Về tố tụng: Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ thụ lý và giải quyết vụ việc trên là đúng thẩm quyền. Trong quá trình giải quyết, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng quy định của pháp luật.

Về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, đã chấp hành đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình còn bị đơn không chấp hành các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Căn cứ những tài liệu, chứng cứ và lời khai có trong hồ vụ án xét thấy mâu thuẫn giữa bà L và ông H là có thật, khi sống chung với nhau giữa bà L và ông H không có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền nên đề nghị Tòa án công nhận bà L và ông H không phải vợ chồng.

- Về con chung: Giao cho ông H trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Trường Y, sinh ngày 06/9/2012, bà L không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Căn cứ theo nội dung Đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, bị đơn có địa chỉ tại phường P, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nên xác định vụ việc giải quyết trên thuộc loại quan hệ về “Không công nhận vợ chồng”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nội dung giải quyết:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị L đã tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức đám cưới nhưng không làm thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền nên hôn nhân giữa bà L và ông H là không hợp pháp.

Qua phần trình bày của bà L và ông H, cả hai đều thừa nhận nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, cách sống nên đời sống chung giữa ông bà L và ông H không thể hòa hợp và không thể tiếp tục chung sống với nhau.

Từ những phân tích trên, nhận thấy tình trạng hôn nhân giữa bà L và ông H đã đến mức trầm trọng, do đó cần chấp nhận yêu cầu của bà L về việc không công nhận vợ chồng với ông H là phù hợp.

Về con chung: Giữa bà L và ông H có 01 con chung là cháu Nguyễn Trường Y, sinh ngày 06/9/2012, cháu Y có nguyện vọng được ở với ông H; bà L và ông H đều thống nhất giao cho ông H trực tiếp nuôi cháu Y, bà L không cấp dưỡng nuôi con.

Do đó Hội đồng xét xử xét thấy, giao cho ông H trực tiếp nuôi cháu Y đến tuổi trưởng thành (Đủ 18 tuổi) và bà L không cấp dưỡng nuôi con là phù hợp.

Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bà L phải chịu 300.000 đồng.

Về quyền kháng cáo: Bà L và ông H được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Các Điều 9, Điều 14 và Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 28, 35, 39, 147, 227 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L về việc: “Không công nhận vợ chồng”.

- Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Văn H không phải là vợ chồng.

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Trường Y, sinh ngày 06/9/2012 cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (Đủ 18 tuổi), bà L không cấp dưỡng nuôi con.

Bà L được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được ngăn cản. Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con nếu họ lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại Khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết.

2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) và được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0005904 ngày 02 tháng 10 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Như vậy, bà L đã nộp đủ tiền án phí.

3. Nguyên đơn có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày nhận bản án hoặc bản án đươc Tòa án tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ