vanban.org

Bản án 31/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TP. Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh Tuyên án 12/07/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

147; Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Ch p nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Ngô Kim Nh . Tuyên xử: Buộc chị Nguyễn Thị Mỹ H phải trả cho chị Ngô Kim Nh số tiền Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "vụ án dân sự"
  • Tòa quyết gì? 147; Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

Số: 31/2021/DS-ST

Ngày: 12/07/2021

TÒ ÁN NHÂN DÂN TP TRÀ VINH CỘNG HÒ XÃ HỘI CHỦ NGHĨ VI T N M “V/ Tranh ch p hợp đồng ay tài sản” NHÂN D NH NƯỚC CỘNG HÒ XÃ HỘI CHỦ NGHĨ VI T N M TÒ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TRÀ VINH

- hành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Kim Triều Các Hội thẩm nhân dân:1. Bà Thạch Thị Mỹ Kim 2. Ông Đặng Văn Dúng - hư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Hồng Nhả – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố rà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Bé Em – Kiểm sát viên. Ngày 12 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 388/2020/TLST – DS, ngày 21 tháng 12 năm 2020 về việc “Tranh ch p hợp đồng ay tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2021/QĐXXST- DS ngày 14 tháng 6 năm 2021và Quyết định hoãn phiên tòa số: 58/2021/QĐST-DS, ngày 30 tháng 6 năm 2021 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Chị Ngô Kim Nh, sinh năm 1984 (có mặt) Địa chỉ: Số A, Nguyễn Thị Minh Khai, khóm 5, phường B, thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh. 2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ H, sinh năm 1979 (vắng mặt) Địa chỉ: Số B, Nguyễn Thị Minh Khai, khóm 5, phường B, thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 27 tháng 11 năm 2020, trong quá trình giải quyết ụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Ngô Kim Nh trình bày: Vào ngày 15/11/2018 chị có cho chị Nguyễn Thị Mỹ H vay mượn số tiền là 60.000.000 đồng (Sáu chục triệu đồng), thời gian vay mượn là 12 tháng từ ngày 16/11/2018

đến 16/11/2019. Từ khi vay đến nay chị H có trả cho chị được 5.000.000 đồng vốn và lãi su t là 2%/tháng, chị H đóng được một năm với số tiền 14.400.000 đồng (Mười bốn triệu bốn trăm ngàn đồng), số tiền lãi chị H đã đóng lãi cho chị vượt so với quy định của pháp luật chị yêu cầu được tính vào khoảng tiền lãi từ ngày 17/11/2019 đến nay mà chị H không đóng lãi cho chị mà không yêu cầu tính lãi thêm. Nay chị yêu cầu chị H trả số tiền vốn 55.000.000 đồng. - Bị đơn chị Nguyễn Thị Mỹ H ắng mặt, nên không có lời trình bày. Vị đại diện Viện kiểm sát cho rằng việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử về việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử đã ch p hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự và việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử tại phiên tòa hôm nay đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Sau khi phân tích đánh giá các tình tiết của vụ án vị đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 463; Điều 466; Điều 470 của Bộ luật dân sự; Ch p nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Kim Nh buộc chị Nguyễn Thị Mỹ H trả cho chị Nh số tiền 55.000.000 đồng. Về án phí dân sự sơ thẩm chị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Việc chị H đóng lãi cho chị Nh một tháng là 2%/tháng (24%/năm) là vượt so với quy định của pháp luật là 4%/năm, chị Nh yêu cầu được c n trừ tiền lãi đã thu vượt trên để tính cho tiền lãi từ ngày 17/11/2019 cho đến nay chị H không có trả lãi cho chị, là phù hợp với pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử ch p nhận. Tại phiên tòa hôm nay, các đương sự không cung c p thêm tài liệu, chứng cứ và vẫn giữ nguyên yêu cầu như trên. NHẬN ĐỊNH CỦ TÒ ÁN: Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nghe lời trình bày của đương sự và được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử

nhận định:

[1] Về tố tụng: Xét th y hợp đồng vay có lập thành văn bản chị H có cung c p địa chỉ cụ thể, Tòa án đã tiến hành tống đạt gi y triệu tập cho chị H và được bà Lương Thị Th là mẹ ruột chị H nhận thay. Qua làm việc bà Th trình bày khi nhận các văn bản tống đạt của Tòa án bà đều có giao lại cho chị H biết sự việc chị Nh khởi kiện chị H tại Tòa án, nhưng qua các lần triệu tập chị H đều vắng mặt không lý do. Tại phiên tòa hôm nay, chị Nguyễn Thị Mỹ H mặc dù được triệu tập xét xử lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do, không có trở ngại khách quan. Căn cứ vào điểm b Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng đưa vụ án ra xét xử là có căn cứ đúng pháp luật. [2] Về nội dung vụ án: Xét lời trình bày của nguyên đơn, và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, các chứng cứ thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, th y đủ căn cứ xác định:

Việc chị Nguyễn Thị Mỹ H vay mượn tiền của chị Ngô Kim Nh là có thật được thể hiện tại biên nhận ngày 15/11/2018 do chị H ký tên vay mượn tiền của chị Nh với số tiền vay là 60.000.000 đồng, hợp đồng vay có thời hạn trả nợ là 12 tháng từ ngày 16/11/2018 đến 16/11/2019, mục đích vay mượn tiền là chi tiêu sinh hoạt cá nhân. Xét th y từ khi vay đến nay chị H có trả cho chị Nh vốn gốc được 5.000.000 đồng và đóng lãi cho chị Nh được 12 tháng với lãi su t 2%/tháng (24%/năm) với số tiền là 14.400.000 đồng (Mười bốn triệu bốn trăm ngàn đồng) là vượt so với quy định của pháp luật. Tuy nhiên từ ngày 17/11/2019 đến nay thì chị H không có đóng lãi cho chị Nh, nên chị Nh yêu cầu số lãi mà chị thu vượt 4%/năm được tính vào khoảng tiền lãi từ ngày 17/11/2019 đến nay mà chị H không đóng lãi cho chị và không yêu cầu tính lãi thêm, nên việc chị Nh yêu cầu cần trừ số tiền thu lãi vượt 4%/ năm vào thời gian trên là phù hợp với quy định của pháp luật, và tại phiên tòa hôm nay chị Nh yêu cầu chị H trả lại số tiền vốn gốc còn nợ 55.000.000 đồng phù hợp với quy định của pháp luật, nên được ch p nhận. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử nghĩ nên ch p nhận yêu cầu của chị Ngô Kim Nh, buộc chị Nguyễn Thị Mỹ H trả cho chị Ngô Kim Nh số tiền 55.000.000 đồng. [3] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Chị Nguyễn Thị Mỹ H phải nộp án phí theo quy định của pháp luật. [4] Đối với quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Trà Vinh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được ch p nhận. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Căn cứ Điều 463; Điều 466; Điều 470 của Bộ luật dân sự; Ch p nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Ngô Kim Nh . Tuyên xử: Buộc chị Nguyễn Thị Mỹ H phải trả cho chị Ngô Kim Nh số tiền 55.000.000 đồng (Năm mươi lăm triệu đồng). Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi su t quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015. Về án phí: chị Nguyễn Thị Mỹ H phải chịu 2.750.000 đồng (Hai triệu bảy trăm năm chục ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Chị Ngô Kim Nh không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho chị Nh số tiền tạm ứng án phí 1.375.000 đồng (Một triệu ba trăm bảy mươi lăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0003050, ngày 17/11/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Trà Vinh.

Án xử công khai báo cho các đương sự có mặt tại phiên tòa biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 12/7/2021. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7,7a,7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌ PHIÊN TÒ

Cỡ chữ