- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lư Thị Mỹ H:
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH TÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH VĨNH LONG Bản án số: 31/2021/DS - ST Ngày: 30/6/2021 v/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH TÂN, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Ngọc Hải
2. Ông Nguyễn Văn Sáu
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Định là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Danh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 6 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 40/2021/TLST-DS, ngày 28 tháng 4 năm 2021. Về việc: “tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2021/QĐXXST - DS ngày 07 tháng 6 năm 2021 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lư Thị Mỹ H, sinh năm 1968 (có mặt)
Địa chỉ: tổ 9, ấp T, xã L, huyện BT, tỉnh Vĩnh Long
2. Bị đơn: 1/ Ông Huỳnh Thiện H1, sinh năm 1970 (xin vắng mặt)
2/ Bà Đỗ Thị Hồng L, sinh năm 1959 (có mặt)
Địa chỉ: tổ 11, ấp T, xã L, huyện BT, tỉnh Vĩnh Long
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, bản khai ngày 28/4/2021 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là bà Lư Thị Mỹ H trình bày:
Bà với vợ chồng bà Đỗ Thị Hồng L và ông Huỳnh Thiện H1 có quen biết nên bà có cho vợ chồng bà L vay tiền, vàng, thời gian như sau:
Vào ngày 11/12/2015, vợ chồng bà L có làm giấy cam kết vay của bà số tiền là 42.000.000 đồng, hứa mỗi tháng trả 1.000.000 đồng. Sau đó vợ chồng bà L có trả tiền nhưng không đúng theo cam kết, trong khi mấy năm nay bà bị bệnh rất tốn tiền. Đến nay vợ chồng bà L còn thiếu 11.000.000 đồng.
Vào ngày 11/12/2015, vợ chồng bà L làm giấy vay bà 15 chỉ vàng 24K nhưng đến nay chưa trả cho bà.
Nay bà yêu cầu bà L và ông H1 phải có trách nhiệm trả cho bà số vàng là 15 chỉ vàng 24K và 11.000.000 đồng. Bà không yêu cầu tính lãi từ trước cho đến nay. Bà yêu cầu tính lãi từ khi Tòa án xét xử sơ thẩm cho đến khi vợ chồng bà L trả hết số tiền này.
- Bà Đỗ Thị Hồng L trình bày: Bà thống nhất với ý kiến của bà Lư Thị Mỹ H về thời gian và số tiền, vàng đã vay của bà H. Nay vợ chồng bà đồng ý trả cho bà H số tiền còn thiếu là 11.000.000 đồng và 15 chỉ vàng 24k. Do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không có tiền trả một lần cho bà H.
- Ông Huỳnh Thiện H1 trình bày: Ông thống nhất với lời trình bày của vợ ông là bà Đỗ Thị Hồng L, ngoài ra ông không còn ý kiến gì khác.
Tại phiên tòa:
- Bà Lư Thị Mỹ H trình bày: Từ năm 2009, bà có cho vợ chồng bà L vay 3 cây vàng 24k, có làm biên nhận, lãi suất đóng 1.200.000 đồng, nhưng vợ chồng bà L đóng lãi được khoảng 3 tháng thì ngưng không đóng lãi cho đến nay; Bà có chơi dụi do bà L làm đầu thảo, các dây hụi này đã xong nhưng bà L không trả tiền hụi cho nên vợ chồng bà L có chốt hụi là còn thiếu bà 42.000.000 đồng, số tiền này bà không lấy lãi. Đến nay vợ chồng bà L đã trả cho bà 15 chỉ vàng 24K, còn số tiền thì trả nhiều lần và còn thiếu 11.000.000 đồng. Nay bà yêu cầu bà L và ông H1 phải trả cho bà 15 chỉ vàng 24K và 11.000.000 đồng, bà không yêu cầu trả tiền lãi từ trước cho đến này, bà yêu cầu trả tiền lãi từ khi Tòa án xử xong bằng bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi vợ chồng bà L trả hết tiền cho bà.
- Bà Đỗ Thị Hồng L trình bày: Vào nằm 2009, vợ chồng bà có vay của bà H số vàng là 3 cây vàng 24K; bà có làm đầu thảo hụi và còn thiếu tiền hụi của bà L là 42.000.000 đồng. Số tiền và vàng thì có làm biên nhận nhưng do bà H giữ biên nhận. Trước đây vợ chồng bà có làm cơ sở kinh doanh nhưng bị thua lỗ nên bị phát mãi tài sản, vì vậy, vợ chồng bà có đóng lãi cho bà H nhưng không nhớ là bao nhiêu, hiện nay vợ chồng bà còn thiếu bà H 15 chỉ vàng 24K và 11.000.000 đồng, vợ chồng bà cũng đồng ý trả số tiền và vàng này nhưng do kinh tế khó khăn nên không có trả một lần theo yêu cầu của bà H.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Tân:
Áp dụng Điều 26,35, 39, 147, 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2005;
Áp dụng Điều 471, 474 Bộ luật dân sự năm 2005;
Áp dụng Điều 436, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lư Thị Mỹ H, buộc ông Huỳnh Thiện H1 và bà Đỗ Thị Hồng L có trách nhiệm trả cho bà H số tiền 11.000.000 đồng và 15 chỉ vàng 24K.
Về án phí: Miễn án phí cho ông Hữu và bà L do thuộc đối tượng người cao tuổi, hoàn trả cho bà H số tiền tạm ứng 2.757.000 đồng tại Chi cục thi hành án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
- Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Ông Huỳnh Thiện H1 có đơn xin giải quyết vắng mặt nên được giải quyết vắng mặt theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Bà Đỗ Thị Hồng L và ông Huỳnh Thiện H1 đều thừa nhận có làm giấy cam kết vay bà Lư Thị Mỹ H số tiền là 42.000.000 đồng và 15 chỉ vàng 24K. Nay các bên đều thừa nhận là bà L và ông H1 còn thiếu bà H số tiền gốc là 11.000.000 đồng và 15 chỉ vàng 24K. Do đó, bà H yêu cầu bà L và ông H1 phải trả số tiền gốc là 11.000.000 đồng và 15 chỉ vàng 24K là có căn cứ chấp nhận.
Về tiền lãi từ khi làm giấy đến thời điểm Tòa án xét xử các bên không có tranh chấp về tiền lãi và không có yêu cầu giải quyết tiền lãi nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Đỗ Thị Hồng L và ông Huỳnh Thiện H1 là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên được chấp nhận. Bà Lư Thị Mỹ H được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng pháp luật được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 471, 474 Bộ luật dân sự năm 2005;
Căn cứ Điều 463, 465, 466 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/06/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lư Thị Mỹ H:
Buộc bà Đỗ Thị Hồng L và ông Huỳnh Thiện H phải có nghĩa vụ trả cho bà Lư Thị Mỹ H số tiền 11.000.000.000 đồng (mười một triệu đồng) và 15 (mười lăm) chỉ vàng 24K.
2. Về án dân sự sơ thẩm:
- Miễn án phí cho bà Đỗ Thị Hồng L và ông Huỳnh Thiện H1.
- Hoàn trả cho bà Lư Thị Mỹ H số tiền 2.757.000 đồng (hai triệu bảy trăm năm mươi bảy ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0011921 ngày 28 tháng 4 năm 2021 của Chi cục Thi hành án huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long.
3. Về nghĩa vụ thi hành án:
- Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải chịu thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án hoặc niêm yết theo quy định pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND T. Vĩnh Long; - VKSND H. Bình Tân; - Chi cục THADS H. Bình Tân; - Các đương sự; - Lưu. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Lê Ngọc Hải Ông Nguyễn Văn Sáu | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Văn Dũng THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Dũng |