vanban.org

Bản án 31/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 14/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về áp dụng điều luật: Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 55; khoản 2 Điều 56; điểm a khoản 1 Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UB…

Tuyên bố bị cáo: Đinh Văn H phạm tội “ đánh bạc”. Xử phạt: Đinh Văn H 06 ( sáu ) tháng tù về tội “ đánh bạc”. Tổng hợp với hình phạt 03 (ba) tháng 22 (Hai mươi hai) ngày tù của bản án số 35/2019/HSPT ngày 17/10/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình. Buộc Đinh Văn H phải chấp hành hình phạt chung c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về áp dụng điều luật: Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 55; khoản 2 Điều 56; điểm a khoản 1 Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UB…
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN MÔ
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2020/HSST
Ngày 14 tháng 7 năm 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Ngọc Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Xuân Mười

2. Ông Phạm Thanh Liêm

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Minh Thư – Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Lê Thanh Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2020/TLST - HS ngày 19 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2020/ QĐXXST – HS ngày 29 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo: Đinh Văn H, sinh năm 1989; Nơi sinh: Ninh Bình; Nơi ĐKNKTT: Xóm 2, thôn Thọ Bình, xã Yên Phong, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đinh Công H; con bà Hoàng Thị C; Vợ Phạm Thị L, con có 2 con, con lớn sinh năm 2014 con nhỏ sinh năm 2015; Tiền án: Có 01 tiền án, tại bản án số 35/2019/HSPT ngày 17/10/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xử phạt 15 tháng Cải tạo không giam giữ, khấu trừ 05% thu nhập trong thời gian chấp hành hình phạt, phạt bổ sung 10.000.000đồng, bị cáo chưa chấp hành xong; Tiền sự: không; Nhân thân: Tại bản án số 11/2013/HSST ngày 07/5/2013 của Tòa án nhân dân huyện Yên Mô xử phạt 3.500.000đồng, án phí 200.000đồng về tội “ Đánh bạc” bị cáo chấp hành xong bản án vào ngày 13/5/2014. Bị cáo bị truy nã, tạm giữ từ ngày 16/5/2020 đến ngày 18/5/2020 chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Mai Văn Á, sinh năm 1968, trú tại xóm 3, Thọ Bình, xã Yên Phong,

huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình ( vắng mặt)

2. Anh Nguyễn Minh H, sinh năm 1985, trú tại xóm 2, Thọ Bình, xã Yên

Phong, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình ( vắng mặt).

3. Ông Mai Hồng N, sinh năm 1963, trú tại xóm 2, Thọ Bình, xã Yên Phong,

huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình ( vắng mặt)

Người làm chứng: Ông Lại Văn Th ( vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Đinh Văn H là người đang chấp hành hình phạt Cải tạo không giam giữ về tội “ Đánh bạc”. Sáng ngày 22/02/2020, H cùng với Mai Văn Á, Nguyễn Minh H, Mai Hồng N đến nhà của ông Lại Văn Th, ở thôn Thọ Bình, xã Yên Phong, huyện Yên Mô chơi. Năm người ngồi uống nước đến khoảng 09 giờ cùng ngày thì Nam thấy bộ bài Tú lơ khơ 52 quân bài để sẵn trên mặt tủ ti vi nhà ông Th, nên rủ H, Á, H chơi bài được thua bằng tiền dưới hình thức chơi “ Phỏm” ba người đồng ý. N quy định mức độ sát phạt: người về nhất được thu của tất cả số tiền của những người còn lại, về thứ hai phải trả cho người về nhất số tiền 10.000đồng, về thứ 3 phải trả cho người về nhất số tiền 20.000đồng, về thứ tư phải trả cho người về nhất số tiền 30.000đồng, trường hợp không có phỏm “ tức bài cháy” phải trả cho người về nhất 40.000đồng; ai có bài “ ù” thì được thu của những người còn lại 50.000đồng. Thống nhất xong, cả bốn người ngồi xuống nền nhà bắt đầu “ đánh bạc” N chia ván bài đầu tiên. Trong khi H, N, H và Á đang ngồi đánh bạc thì Mai Văn D, Đỗ Văn Đ, Đỗ Văn B đều cùng trú tại thôn Thọ Bình, xã Yên Phong, huyện Yên Mô đến nhà ông Th chơi. Bùi rủ Th, D và Đ đánh bài được thua bằng tiền dưới hình thức chơi “ Phỏm” ba người đồng ý, mức độ sát phạt cũng như nhóm của N. Cả hai nhóm đánh đến khoảng 10 giờ thì bị Công an xã Yên Phong phát hiện, thấy vậy Đinh Văn H cầm theo số tiền 400.000đồng đang sử dụng để “Đánh bạc” bỏ chạy. Công an xã Yên Phong đã lập biên bản vi phạm, thu giữ 1 bộ bài tú lơ khơ và tổng số tiền 820.000đồng sử dụng để đánh bạc của nhóm Mai Văn Á, Nguyễn Minh H và Mai Hồng N; thu giữ 01 bộ bài tú lơ khơ và tổng số tiền 450.000đồng sử dụng để đánh bạc của nhóm Lại Văn Th, Mai Văn D, Đỗ Văn Đ và Đỗ Văn B.

Đinh Văn H đến Công an xã Yên Phong làm việc, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và giao nộp số tiền 400.000đồng sử dụng để đánh bạc cùng với Mai Văn Á, Nguyễn Minh H và Mai Hồng N.

Quá trình điều tra xác định, Đinh Văn H, Mai Văn Á, Nguyễn Minh H Mai Hồng N sử dụng tổng số tiền 1.220.000đồng để “ đánh bạc”, trong đó Đinh Văn H sử dụng số tiền 400.000đồng đánh bạc, Mai Hồng N sử dụng số tiền 200.000đồng để đánh bạc khi bị bắt N và H không thắng, không thua; Nguyễn Minh H có số tiền 300.000đồng, khi bị phát hiện H thắng số tiền 200.000đồng; Mai Văn Á có số tiền 320.000đồng khi bị phát hiện Á thua số tiền 200.000đồng.

Đối với chiếu bạc có Lại Văn Th, Mai Văn D, Đỗ Văn Đ và Đỗ Văn B sử dụng tổng số tiền 450.000đồng để “ đánh bạc” trong đó của Đỗ Văn Đ là 100.000đồng; Đỗ Văn B là 100.000đồng; Lại Văn Th là 50.000đồng; của Mai Văn D là 200.000đồng.

Tại bản cáo trạng số: 30/CT-VKS ngày 18 tháng 6 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô đã truy tố bị can: Đinh Văn H ra trước Tòa án nhân dân huyện Yên Mô để xét xử về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa hôm nay Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

Tuyên bố bị cáo: Đinh Văn H phạm tội “ đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự xử phạt Đinh Văn H từ 6 đến 9 tháng tù về tội “ Đánh bạc”; phạt bổ sung từ 10.000.000đồng đến 15.000.000đồng.

Về tổng hợp hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 55; khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự Tổng hợp với hình phạt 03(ba) tháng 22(Hai mươi hai) ngày tù của bản án số 35/2019/HSPT ngày 17/10/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình. Buộc Đinh Văn H phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu sung NSNN số tiền 1.220.000đồng; tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân.

Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án. Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo cho rằng bị xét xử là đúng người, đúng tội và đề nghị được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Mô, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, biên bản vi phạm cũng như vật chứng được thu giữ có đủ căn cứ để xác định. Đinh Văn H là người bị kết án về tội “ đánh bạc” đang trong thời gian chấp hành hình phạt Cải tạo không giam giữ, chưa được xóa án tích, khoảng 10 giờ ngày 22/02/2020, tại nhà ở của Lại Văn Th, tại thôn Thọ Bình, xã Yên Phong, huyện Yên Mô. Đinh Văn H lại tiếp tục có hành vi “ đánh bạc” trái phép bằng hình thức “ Đánh phỏm” được thua bằng tiền với Mai Văn Á, Nguyễn Minh H và Mai Hồng N, tổng số tiền sử dụng vào việc “ đánh bạc” là 1.220.000đồng.

Hành vi trên của Đinh Văn H thực hiện, đã phạm tội đánh bạc, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự quy định “ Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc vi phạm quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000đồng đến 100.000.000đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”

Khoản 3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đồng đến 50.000.000 đồng”

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự an toàn công cộng, ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an ở địa phương. Từ cờ bạc dẫn đến hàng loạt các loại tội phạm khác. Để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật thì cần thiết phải đưa ra xét xử với mức hình phạt nghiêm khắc, có như vậy mới nhằm ngăn chặn tệ nạn đánh bạc nói riêng và phòng ngừa tội phạm chung trên địa bàn.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; quá trình điều tra bị cáo đã ra đầu thú nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại bản án số 35/2019/HSPT ngày 17/10/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xử phạt 15 tháng Cải tạo không giam giữ, khấu trừ 05% thu nhập trong thời gian chấp hành hình phạt, phạt bổ sung 10.000.000đồng, Bị cáo chưa chấp hành xong. Bị cáo thực hành vi phạm tội đang trong thời gian chấp hành hình phạt Cải tạo không giam giữ. Tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chưa được xóa án tích, nhưng tiền án này đã được tính là yếu tố định tội ( số tiền đánh bạc lần này dưới 5 triệu đồng ) nên bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.

Về nhân thân: Tại bản án số 11/2013/HSST ngày 07/5/2013 của Tòa án nhân dân huyện Yên Mô xử phạt 3.500.000đồng, án phí 200.000đồng về tội “ Đánh bạc” bị cáo chấp hành xong bản án vào ngày 13/5/2014

Qua xem xét, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người có nhân thân xấu đã từng bị đưa ra xét xử về tội “ đánh bạc”. Bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân, có ý thức coi thường pháp luật, đang trong thời gian chấp hành hình phạt Cải tạo không giam giữ về tội “ đánh bạc” nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới, điều này thể hiện bị cáo là người khó giáo dục, cải tạo. Do đó cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống chung của xã hội một thời gian và áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án: Tại bản án số 35/2019/HSPT ngày 17/10/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình, xử phạt 15 tháng Cải tạo không giam giữ (được trừ đi hai ngày tạm giữ từ ngày 25/4/2019 đến ngày 26/4/2019 bằng 6 ngày Cải tạo không giam giữ). Bị cáo thi hành bản án từ ngày 06/11/2019 đến ngày 22/02/2020 bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới. Như vậy bị cáo mới thi hành được 03 tháng 16 ngày, thời gian còn lại chưa thi hành án là 11 tháng 8 ngày được quy đổi thành 03 tháng 22 ngày tù để tổng hợp với bản án này buộc bị cáo phải chấp hành theo quy định tại Điều 55 và 56 Bộ luật hình sự.

Trong vụ án còn có Mai Văn Á bị Tòa án nhân dân huyện Yên Mô xử phạt 3.000.000đồng về tội “ Đánh bạc” án phí 200.000đồng, bản án số 14/2009/HSST ngày 05/11/2009, chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 10/11/2010.

Đối với Mai Hồng N bị Tòa án nhân dân huyện Yên Mô xử phạt 09 tháng Cải tạo không giam giữ về tội “ đánh bạc” phạt bổ sung 3.000.000đồng, án phí 50.000đồng tại bản án số 15/2006/HSST ngày 05/9/2006. Ngày 28/11/2006 chấp hành xong án phí, ngày 07/5/2006 Tòa án nhân dân huyện Yên Mô ra quyết định miễn chấp hành số tiền phạt đối với Mai Hồng N .

Đối với Nguyễn Minh H: Ngày 15/8/2008 bị Công an huyện Yên Mô xử phạt hành chính 500.000đồng về hành vi “ đánh bạc” chấp hành nộp tiền phạt 16/8/2008; Ngày 05/12/2013 bị công an xã Yên Phong xử phạt hành chính 1.000.000đồng về hành vi “ đánh bạc” chấp hành nộp tiền phạt ngày 26/4/2014; Ngày 08/10/2018 bị Công an huyện Yên Mô xử phạt hành chính 1.500.000đồng về hành vi “ đánh bạc” chấp hành nộp tiền phạt ngày 18/10/2018.

Đối với Đỗ Văn B bị Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình xử phạt 5.000.000đồng về tội “ Đánh bạc” buộc phải nộp số tiền 2.415.000đồng và 200.000 đồng án phí theo bản án số 150/2013/HSST ngày 29/10/2013 chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 14/4/2017. Ngày 14/7/2017 bị Công an huyện Yên Mô xử phạt hành chính 1.000.000đồng về hành vi “ đánh bạc” chấp hành nộp tiền phạt vào ngày 19/4/2017.

Tính đến thời điểm ngày 22/02/2020, Mai Văn Á, Mai Hồng N, Nguyễn Minh H, Đỗ Văn Đ, Mai Văn D và Đỗ Văn B thực hiện hành vi “ đánh bạc” Mai Văn Á, Mai Hồng N và Đỗ Văn B đã được xóa án tích, Nguyễn Minh H đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt hành chính; Đỗ Văn Đ, Mai Văn D đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt hành chính; Đỗ Văn Đ, Mai Văn D không có tiền án, tiền sự về tội đánh bạc hoặc gá bạc số tiền sử dụng vào việc đánh bạc dưới 5.000.000đồng nên hành vi của Mai Văn Á, Mai Hồng N, Đỗ Văn B, Nguyễn Minh H, Đỗ Văn Đ, Mai Văn D không đủ yêu tố cấu thành tội “ Đánh bạc” Công an huyện Yên Mô đã ra quyết định xử lý vi phạm hành chính đối với Mai Văn Á, Mai Hồng N, Đỗ Văn B, Nguyễn Minh H, Đỗ Văn Đ, Mai Văn D là đúng quy định của pháp luật.

Đối với Lại Văn Th là chủ nhà cho bị cáo Đinh Văn H và các đối tượng Mai Văn Á, Mai Hồng N và Nguyễn Minh H đánh bạc tại gia đình mình vào ngày 22/02/2020 nhưng không thu khoản tiền hay tài sản gì, cùng thời điểm đó Th lại cùng ngồi tham gia “ đánh bạc” với Đỗ Văn B, Đỗ Văn Đ, Mai Văn D. Lại Văn Th không có tiền án, tiền sự về tội “ đánh bạc” “tổ chức đánh bạc” hoặc “ gá bạc” số tiền “ đánh bạc” dưới 5.000.000đồng nên hành vi của Lại Văn Th không cấu thành tội phạm. Công an huyện Yên Mô đã ra quyết định xử lý vi phạm hành chính đối Lại Văn Th là đúng quy định của pháp luật.

Đối với số tiền bị cáo và các đối tượng dùng vào việc đánh bạc, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa xác định Đinh Văn H sử dụng số tiền 400.000 đồng; Mai Hồng N sử dụng số tiền 200.000đồng; Nguyễn Minh H sử dụng số tiền 300.000đồng; Mai Văn Á sử dụng số tiền 320.000đồng. Tổng số tiền bị cáo và các đối tượng dùng vào việc đánh bạc 1.220.000 đồng cần tịch thu nộp ngân sách Nhà Nước.

Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

Đối với 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài và số tiền 450.000đồng do Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Yên Mô thu giữ của Lại Văn Th, Đỗ Văn Đ, Mai Văn D và Đỗ Văn B. Công an huyện Yên Mô đã xử lý hành chính đối với Lại Văn Th, Đỗ Văn Đ, Mai Văn D và Đỗ Văn B và xử lý số vật chứng trên.

Đối với 1 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài đã qua sử dụng là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Về áp dụng điều luật: Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 55; khoản 2 Điều 56; điểm a khoản 1 Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.

Tuyên bố bị cáo: Đinh Văn H phạm tội “ đánh bạc”.

1. Xử phạt: Đinh Văn H 06 ( sáu ) tháng tù về tội “ đánh bạc”. Tổng hợp với hình phạt 03 (ba) tháng 22 (Hai mươi hai) ngày tù của bản án số 35/2019/HSPT ngày 17/10/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình. Buộc Đinh Văn H phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 09 (chín) tháng 22 ( hai mươi hai) ngày tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 16/5/2020. Phạt tiền bổ sung:10.000.000 (mười triệu) đồng.

2. Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

2.1 Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 1.220.000 (Một triệu hai trăm hai mươi nghìn đồng)

2.2 Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài bài tú lơ khơ 52 quân bài đã qua sử dụng;

(Chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22 tháng 6 năm 2020 và ủy nhiệm chi lập ngày 23/6/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Mô và Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Mô).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Đinh Văn H phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Án xử công khai sơ thẩm báo để bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ