- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức T - phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy (điều 250 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của cáo Nguyễn Đức T; gi nguyên quyết đ nh về hình phạt tại Bản án hình sự s thẩm số 25/2020/HS-ST ngày 18/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum đối với cáo Nguyễn Đức T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 250 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2020/HSPT Ngày: 21/12/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Trương Công Thi
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Tiến
Ông Nguyễn Cường
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Nhật, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Lê Ra, Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 81/2020/TLPT-HS ngày 30 tháng 10 năm 2020 đối với cáo Nguyễn Đức T về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Do có kháng cáo của b cáo đối với Bản án hình sự s thẩm số 25/2020/HS-ST ngày 18/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Đức T, sinh năm 1976 tại tỉnh Bình Đ nh; N i đăng ký HKTT và chỗ ở: tỉnh Kon Tum; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc t ch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn B và à Nguyễn Th H (đều đã chết); B cáo có vợ là Nguyễn Th Thanh T1 và có 01 con; Tiền án, tiền sự: Không. B cáo b bắt gi khẩn cấp và b tạm gi , tạm giam từ ngày 28/3/2020 cho đến nay. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lý Thành L, Luật sư Văn phòng luật sư M thuộc Đoàn luật sư tỉnh Kon Tum. Có mặt.
Đ a chỉ: tỉnh Kon Tum.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 13 giờ 00 phút ngày 28/3/2020, Tổ công tác thuộc đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy – Công an thành phố K phát hiện Nguyễn Đức T, sinh năm 1976 điều khiển xe ô tô BKS 82A-02266 trên đường P, thành phố K hướng về tỉnh Gia Lai có iểu hiện nghi vấn vận chuyển trái phép chất ma túy nên đã phối hợp cùng Phòng Cảnh sát giao thông – Công an tỉnh Kon Tum yêu cầu dừng phư ng tiện để kiểm tra nhưng Nguyễn Đức T không chấp hành hiệu lệnh mà quay đầu xe bỏ chạy về hướng thành phố K. Khi đến trước số nhà 933 P, tổ 5, phường T, thành phố K, Nguyễn Đức T đã vứt 01 ì ni lông màu đen xuống vỉa hè rồi tiếp tục bỏ chạy đến khu công nghiệp Hòa Bình thuộc tổ 4, phường Lê Lợi, thành phố K, tỉnh KonTum thì L lượng Cảnh sát giao thông dừng xe 82A-02266 kiểm tra. Tiến hành kiểm tra ì ni lông mà T đã vứt xuống vỉa hè phát hiện và thu gi 01 gói tinh thể rắn màu trắng đựng trong ì ni lông dán kín, 01 gói chất cục bột màu vàng đựng trong ì ni lông dán kín; 01 gói chất tinh thể rắn màu trắng đựng trong ì ni lông uộc kín ằng dây thun màu xanh và số chất cục bột màu vàng còn sót lại trong ì ni lông màu đen.
Theo kết luận giám đ nh số 67/GĐTP-PC09 ngày 01/4/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kon Tum kết luận: “Mẫu tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu M1, M3) được niêm phong trong bì gửi giám định là ma túy có khối lượng 194,983 gam, là loại Methamphetamine; Mẫu chất cục bột màu vàng (ký hiệu M2; M4) được niêm phong trong bì gửi giám định là ma túy, có khối lượng 58,072 gam, là loại MDMA”.
Quá trình điều tra Nguyễn Đức T khai nhận: Khoảng 12 giờ ngày 28/3/2020, Nguyễn Đức T đang ở nhà số 337 T, thành phố K thì nhận được điện thoại của Phạm Quốc L (sinh năm 1996; trú tại: hẻm: thành phố K, tỉnh Kon Tum, là khách đi taxi thường xuyên của T) thuê T vận chuyển gói hàng xuống Gia Lai. T điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Sun Taxi biển kiểm soát 82A-02266 đi đến phòng trọ của L tại 417/4 Đ, thành phố K, tỉnh KonTum. Đến n i, L đưa cho T 01 ì ni lông màu đen và nói “Anh cầm xuống H rồi em điện người ra lấy”. T nhận ì ni lông màu đen cầm lên xe để ở v trí cần số của xe ô tô và điều khiển xe ô tô đến đoạn đường T – Đ thì dừng xe và tấp vào quán cóc uống nước. Sau đó, T điều khiển xe ô tô đi trên đường P, thành phố K thì L gọi điện thoại lại cho T bảo dừng xe đợi L gửi thêm giấy nợ xuống Gia Lai. Một lát sau, L điều khiển xe mô tô (không rõ iển kiểm soát) đến đường P đưa cho T 01 Giấy mượn tiền ghi tên Tạ Đình Đề. T nhận giấy tờ từ L rồi tiếp tục điều khiển xe ô tô đi xuống Gia Lai. Khi đi đến thành phố K thấy L lượng Cảnh sát giao thông công an tỉnh Kon Tum ra hiệu lệnh dừng xe để kiểm tra. Lúc này, T nghi ngờ gói hàng L thuê vận chuyển là ma túy nên tấp vào cây xăng gần đó mở ì ni lông ra kiểm tra thấy ên trong có chứa ma túy nên T quay đầu xe hướng về thành phố K bỏ chạy và L lượng cảnh sát giao thông truy đuổi. Trên đường bỏ chạy, T đã vứt ì ni lông màu đen ên trong chứa ma túy ra khỏi xe và r i trên vỉa hè trước nhà số 933 P, thành phố K, tỉnh Kon Tum rồi tiếp tục bỏ chạy. T chạy đến đoạn đường gần Khu công nghiệp Hòa Bình thì công an chặn lại và yêu cầu quay lại trước số nhà 933 P, thành phố K lập Biên ản khám nghiệm hiện trường và thu gi 01 ì ni lông chứa ma túy như đã nêu trên.
* Đối với Phạm Quốc L, theo lời khai của b cáo Nguyễn Đức T là T được thuê vận chuyển số ma túy, tuy không thỏa thuận giá cả nhưng hai ên tự hiểu L sẽ trả tiền vận chuyển cho T theo giá taxi từ Kon Tum đến Gia Lai là 350.000 đồng, số tiền này T chưa nhận. Tuy nhiên, L không thừa nhận việc thuê T vận chuyển ì ni lông có chứa ma túy, chỉ thừa nhận nhờ T chuyển “Giấy mượn tiền” xuống Quy Nh n; hiện chưa có chứng cứ, tài liệu chứng minh việc L là người thuê T vận chuyển ma túy nên C quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ để xử lý sau.
Với các nội dung trên,
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2020/HS-ST ngày 18/9/2020, Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum, quyết định:
Căn cứ Điều 38; điểm h khoản 4 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.
Tuyên ố b cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: B cáo Nguyễn Đức T 20 (Hai mư i) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm gi , tạm giam 28/3/2020.
Bản án s thẩm quyết đ nh về phần xử lý vật chứng, án phí, tuyên quyền kháng cáo theo quy đ nh.
Ngày 21/9/2020, cáo Nguyễn Đức T có đ n kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm b cáo gi nguyên kháng cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng phát iểu: Về tố tụng: Hội đồng xét xử, nh ng người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiện và tuân thủ đúng các quy đ nh của Bộ luật Tố tụng hình sự; Về nội dung: Đề ngh Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo, gi nguyên quyết đ nh về hình phạt của Bản án s thẩm đối với b cáo.
Người ào ch a cho b cáo, Luật sư ông Lý Thành Lê, trình ày luận cứ ào ch a cho b cáo như sau: Hành vi của b cáo Tòa án cấp s thẩm xét xử là đúng người, đúng tội, tuy nhiên với mức án 20 năm tù là nặng, đề ngh Hội đồng xét xử xem xét tình tiết b cáo đã khai áo người thuê vận chuyển, hoàn cảnh gia đình khó khăn để giảm nhẹ cho b cáo một phần hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào hồ s vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã xem xét và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, xem xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của b cáo, xét thấy:
Tại phiên tòa phúc thẩm, b cáo Nguyễn Đức T đã khai nhận toàn ộ hành vi phạm tội của mình như Bản án s thẩm đã xác đ nh, lời khai của b cáo phù hợp với lời khai của nh ng người làm chứng, người chứng kiến, vật chứng và nh ng tài liệu khác có trong hồ s vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ c sở để kết luận: B cáo Nguyễn Đức T là nhân viên hợp đồng trong lĩnh vực vận chuyển (tài xế của hãng Sun Taxi), mặc dù nắm rõ các quy đ nh của Công ty cổ phần Sun Taxi về việc vận chuyển hàng hóa là phải kiểm tra thông tin hàng hóa, áo lại cho Công ty khi nhận vận chuyển hàng hóa, nhưng khi nhận vận chuyển gói hàng (01 ì ni lông màu đen có chứa ma túy) nhưng cáo vẫn không kiểm tra mà tiếp tục vận chuyển hàng.
Kết quả giám đ nh xác đ nh gói hàng do cáo vận chuyển trong đó có 253,055 gam ma túy (gồm 194,983 gam Methamphetamine và 58,072 gam MDMA), hành vi của b cáo Nguyễn Đức T đã cấu thành của tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” được quy đ nh tại điểm h khoản 4 Điều 250 Bộ luật hình sự, với hành vi và số lượng ma túy nêu trên, Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum xét xử b cáo về tội danh “Vận chuyển trái phép chất ma túy” là có căn cứ pháp luật.
Xem xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của b cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Khối lượng ma túy mà cáo vận chuyển trái phép trong vụ án là 194,983 gam Methamphetamine và 58,072 gam MDMA, có số lượng rất lớn, gồm 2 chất ma túy, theo quy đ nh tại điểm a khoản 4 Điều 250 Bộ Luật hình sự quy đ nh hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng từ 100 gam trở lên là b xử phạt mức án đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình; trong vụ án này, hành vi của b cáo đã vận chuyển hai chất ma túy, có khối lượng 194,983 gam Methamphetamine và 58,072 gam MDMA, vượt cao h n so với quy đ nh của điều luật, nhưng Tòa án cấp s thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của b cáo để xử phạt b cáo 20 (Hai mư i) năm tù, chỉ ở mức khởi điểm của điều luật, là tư ng xứng, không nặng.
Tại phiên tòa phúc thẩm không có tình tiết gì mới nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của b cáo cũng như luận cứ ào ch a của Luật sư, gi nguyên quyết đ nh về hình phạt tại Bản án s thẩm đối với b cáo Nguyễn Đức T.
. Do kháng cáo không được chấp nhận nên cáo Nguyễn Đức T phải ch u án phí hình sự phúc thẩm theo quy đ nh của pháp luật.
. Nh ng quyết đ nh khác về xử lý vật chứng; án phí s thẩm của Bản án s thẩm không có kháng cáo, kháng ngh nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự;
1. Không chấp nhận kháng cáo của cáo Nguyễn Đức T; gi nguyên quyết đ nh về hình phạt tại Bản án hình sự s thẩm số 25/2020/HS-ST ngày 18/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum đối với cáo Nguyễn Đức T.
Áp dụng: Điều 38; điểm h khoản 4 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.
Xử phạt: B cáo Nguyễn Đức T 20 (Hai mư i) năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/3/2020.
2.Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng điểm a, khoản 2 Điều 23 Ngh quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 23/12/2016 của Ủy an Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án.
B cáo Nguyễn Đức T phải ch u 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết đ nh khác của ản án s thẩm về phần xử lý vật chứng, án phí s thẩm không có kháng cáo, kháng ngh , có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ Giám đốc Kiểm tra I – TAND tối cao; - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Kon Tum; - VKSND tỉnh Kon Tum; - Cục THADS tỉnh Kon Tum; - Sở Tư pháp tỉnh Kon Tum; - C quan THAHS CA tỉnh Kon Tum; -C quan CSĐT,Phòng HSNV; Trại tạm giam - CA tỉnh Kon Tum; - B cáo; người tham gia tố tụng khác; - UBND phường Thắng Lợi, thành phố KonTum, tỉnh KonTum (thay cho Thông áo kết quả xét xử phúc thẩm); - Lưu Hồ s vụ án, lưu tr . | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trương Công Thi |