- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa chị Huỳnh Thị T với anh Đồng Văn S"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Huỳnh Thị T đƣợc ly hôn với anh Đồng Văn S (Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 29, Quyển số 03 do Ủy ban nhân dân xã Khánh Hòa, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình vào ngày 18/7/2005).
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 31/2020/HNGĐ – ST Ngày: 28/5/2020 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thắm.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Hoàn;
2. Bà Nguyễn Thị Kim Hoa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thƣơng – Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Tùng - Kiểm sát viên
Ngày 28 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 02/2020/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 01 năm 2020 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 33/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2020/QĐST – HNGĐ ngày 07/5/2020, giữa các đƣơng sự.
1. Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị T, sinh năm 1983; thƣờng trú: Tổ 2, phƣờng P, thị xã H, tỉnh T; tạm trú: 26/2A, khu phố Đ, phƣờng T, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, có đơn xin giải quyết vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Đồng Văn S, sinh năm 1984; thƣờng trú: Xóm N, xã K, huyện Y, tỉnh N; tạm trú: 23/27 khu phố T, phƣờng D, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 17/12/2019 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Huỳnh Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh Đồng Văn S sau thời gian tìm hiểu gần 01 năm thì tự nguyện chung sống từ năm 2005, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện Y, tỉnh N vào ngày 18/7/2005 (Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 29, Quyển 03). Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đƣợc một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh từ việc anh S thƣờng xuyên rƣợu chè say xỉn, ham mê cờ bạc, khi về nhà thì kiếm cớ chửi bới, đánh đập vợ con. Mặc dù đƣợc cha mẹ hai bên hòa giải nhiều lần nhƣng anh S không thay đổi. Tình cảm vợ chồng vì thế ngày càng phai nhạt. Từ tháng 5/2015, chị T đã dọn ra ngoài sống riêng, vợ chồng sống ly thân cho đến nay, không còn quan tâm chăm sóc nhau. Nay chị T xác định không còn tình cảm với anh S nên yêu cầu ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Đồng Thế N, sinh ngày 16/6/2006. Hiện nay cháu N đang sống chung với chị T nên khi ly hôn chị T yêu cầu đƣợc tiếp tục trực tiếp nuôi dƣỡng, không yêu cầu anh Đồng Văn S thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Huỳnh Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Đồng Văn S: Quá trình tố tụng, anh S đã đƣợc Tòa án thông báo thụ lý, triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 27/3/2020; tham gia phiên tòa vào các ngày 07/5/2020 và ngày 28/5/2020, tuy nhiên anh S vắng mặt không có lý do, không cung cấp chứng cứ và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị T.
- Tại biên bản xác minh của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An tại Hội liên hiệp phụ nữ phƣờng Dĩ An, thành phố Dĩ An thể hiện: Hội Liên hiệp phụ nữ phƣờng Dĩ An không nhận đƣợc đơn đề nghị hòa giải quan hệ hôn nhân giữa chị Huỳnh Thị T và anh Đồng Văn S. Đồng thời, Hội không tiếp nhận phản ánh từ cơ sở về mâu thuẫn giữa hai anh chị, do đó, không biết rõ giữa hai anh chị có mâu thuẫn nhƣ thế nào.
- Kết quả xác minh tại Công an phƣờng Dĩ An thể hiện: Anh Đồng Văn S, sinh năm 1984 có đăng ký tạm trú tại địa chỉ: 23/27 khu phố T, phƣờng D, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa, Tòa án và nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự, bị đơn đã đƣợc triệu tập hợp lệ nhƣng vẫn vắng mặt không có lý do. Đồng thời nguyên đơn chị Huỳnh Thị T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó, căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định.
Về việc giải quyết vụ án:
Về quan hệ hôn nhân, chị Huỳnh Thị T và anh Đồng Văn S có đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình tố tụng, anh S không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án, không cung cấp lời khai và chứng cứ về quan hệ hôn nhân nên có cơ sở xác định mâu thuẫn giữa vợ chồng chị T và anh S là trầm trọng, chị T có yêu cầu ly hôn là có căn cứ. Về con chung, chị T có yêu cầu đƣợc tiếp tục trực tiếp nuôi dƣỡng con chung, không yêu cầu anh S thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con. Hiện nay con chung đang chung sống với chị T, tại bản tự khai cháu Đồng Thế N cũng có nguyện vọng đƣợc ở chung với mẹ. Anh S vắng mặt, không trình bày ý kiến về vấn đề nuôi con và việc cấp dƣỡng nên yêu cầu của chị T về vấn đề nuôi dƣỡng con chung là có căn cứ. Chị T không yêu cầu anh S cấp dƣỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện của đƣơng sự, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận. Về tài sản chung và nợ chung nguyên đơn không tranh chấp, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc xem xét tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, Tòa án nhận định:
Chị Huỳnh Thị T khởi kiện anh Đồng Văn S yêu cầu đƣợc ly hôn. Căn cứ biên bản xác minh tại Công an phƣờng Dĩ An thể hiện: Anh Đồng Văn S, sinh năm 1984 có đăng ký tạm trú tại địa chỉ: 23/27 khu phố T, phƣờng D, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, chị T xác định đây là nơi cƣ trú cuối cùng của anh S nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Về sự vắng mặt của các đƣơng sự: Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh Đồng Văn S để tham gia phiên tòa vào các ngày 07/5/2020 và ngày 28/5/2020 nhƣng anh S vắng mặt không rõ lý do. Ngày 27/3/2020 nguyên đơn chị Huỳnh Thị T nộp đơn từ chối hòa giải và đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án xét xử vắng mặt chị T, anh S.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Thị T và anh Đồng Văn S là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện Y, tỉnh N vào ngày 18/7/2005 (Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 29, Quyển số 03) nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Chị T xác định trong quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2015 nên không thể tiếp tục chung sống đƣợc với nhau và yêu cầu đƣợc ly hôn. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án và nhiều lần triệu tập anh Đồng Văn S đến làm việc nhƣng anh S đều vắng mặt không rõ lý do, không đến tham gia phiên hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Đồng thời, anh S cũng không có văn bản nào thể hiện thiện chí đƣa ra phƣơng pháp hàn gắn mối quan hệ giữa anh và chị T nên có cơ sở xác định cuộc sống hôn nhân của chị T và anh S phát sinh nhiều mâu thuẫn, không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc. Do đó, chị T yêu cầu đƣợc ly hôn với anh S là phù hợp với quy định của Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên có căn cứ chấp nhận.
Về con chung: Chị Huỳnh Thị T và anh Đồng Văn S có 01 con chung là cháu Đồng Thế N, sinh ngày 16/6/2006. Hiện nay cháu N đang sống chung với chị T nên khi ly hôn chị T yêu cầu đƣợc tiếp tục nuôi dƣỡng con chung. Anh S vắng mặt, không có ý kiến gì đối với yêu cầu về nuôi con của chị T đồng thời tại bản tự khai ngày 12/02/2020, cháu Đồng Thế N cũng có nguyện vọng đƣợc ở chung với mẹ. Do đó, để đảm bảo quyền lợi của phụ nữ và tr em sau khi ly hôn cần giao con chung tên Đồng Thế N cho chị T trực tiếp nuôi dƣỡng là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về cấp dƣỡng nuôi con: Tại đơn khởi kiện ngày 17/12/2019 và lời khai trong quá trình tố tụng, chị Huỳnh Thị T xác định chỉ yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng con chung, không yêu cầu anh Đồng Văn S phải thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con. Xét đây là ý chí tự định đoạt của đƣơng sự nên ghi nhận sự tự nguyện của chị T về việc không yêu cầu anh S thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Huỳnh Thị T không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
Từ những phân tích nêu trên, Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
Về án phí: Chị Huỳnh Thị T phải chịu án phí ly hôn theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;
Căn cứ khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ Điểm a Khoản 5 và Điểm a Khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Chị Huỳnh Thị T đƣợc ly hôn với anh Đồng Văn S (Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 29, Quyển số 03 do Ủy ban nhân dân xã Khánh Hòa, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình vào ngày 18/7/2005).
2. Về con chung: Tiếp tục giao con chung tên Đồng Thế N, sinh ngày 16/6/2006 cho chị Huỳnh Thị T trực tiếp nuôi dƣỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Huỳnh Thị T về việc không yêu cầu anh Đồng Văn S thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, chị Huỳnh Thị T và anh Đồng Văn S đều có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con, không ai đƣợc quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Trƣờng hợp anh Đồng Văn S lạm dụng việc đi lại, thăm nom con gây ảnh hƣởng xấu đến việc chị Huỳnh Thị T nuôi con thì chị T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và mức cấp dƣỡng.
3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí: Chị Huỳnh Thị T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng án phí ly hôn, đƣợc khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng đã nộp theo Biên lai số 0039925 ngày 31/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - Các đƣơng sự (2 ; - TAND tỉnh Bình Dƣơng (1 ; - VKSND thành phố Dĩ An (1); - Chi cục THADS thành phố Dĩ An (1); - UBND xã K, huyện Y, tỉnh N; - Lƣu: VT, hồ sơ vụ án (2 . | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thắm |