- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vũ Thị Phú H-Đỗ Thế P"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị Phú H.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2020/HNGĐ-ST Ngày: 13-7-2020 “V/v yêu cầu giải quyết ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Rmah HThuyên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Tô Thị Lành
2. Bà Lê Thị Thanh Cường
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Quang Ân - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thắng Trinh - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 7 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:132/2020/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2020 về việc “Yêu cầu giải quyết ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2020, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Vũ Thị Phú H
Địa chỉ: Thôn 6, xã T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
2. Bị đơn: Anh Đỗ Thế P
Địa chỉ: Thôn 6, xã T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Chị Vũ Thị Phú H trình bày:
Chị và anh Đỗ Thế P đăng ký kết hôn vào ngày 14-4-2017 tại Ủy ban nhân phường Hoa Lư, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được. Vào ngày 02-3-2019, chị và anh P đã thống nhất làm đơn ly hôn nhưng sau khi làm đơn xong thì gia đình có việc nên chưa nộp đơn lên Tòa án giải quyết. Sau đó, do nợ nần nhiều anh P đã bỏ đi làm ăn xa, thỉnh thoảng quay về thăm con. Hiện nay, hai vợ chồng đã sống ly thân không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh P.
Chị và anh P có 01 con chung là cháu Đỗ Vũ Thanh B, sinh ngày 25-01-2017. Nguyện vọng của chị là muốn được nuôi con và không yêu cầu anh P phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị không yêu cầu giải quyết.
Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục để triệu tập hợp lệ đối với anh Đỗ Thế P. Tuy nhiên, anh P không đến Tòa án để cung cấp chứng cứ, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Do vậy, anh P không có lời khai tại hồ sơ vụ án.
Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và buộc nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:
Chị Vũ Thị Phú H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Đỗ Thế P. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn có nơi cư trú tại thôn 6, xã T, thành phố P, tỉnh Gia Lai nên Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai có thẩm quyền giải quyết yêu cầu của nguyên đơn.
Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Chị Vũ Thị Phú H và anh Đỗ Thế Pđã đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, đây là hôn nhân hợp pháp. Theo chị H trình bày thì trong thời gian chung sống với nhau hai vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, đã sống ly thân, hiện nay tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh P.
Xét tình cảm giữa chị H và anh P không còn, hiện nay vợ chồng đã sống ly thân, không còn yêu thương chăm sóc lẫn nhau. Hơn nữa, khi mâu thuẫn, bất đồng xảy ra thì không bên nào đưa ra được biện pháp để hàn gắn quan hệ vợ chồng, làm cơ sở cho việc đoàn tụ. Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bị đơn anh Đỗ Thế Pđã được Tòa án tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng của Tòa án để anh trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị Phú H, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải đoàn tụ và hòa giải về hôn nhân, con chung và các vấn đề khác cũng như tham gia phiên tòa nhưng anh P đều vắng mặt. Như vậy, anh P đã không còn quan tâm đến tình cảm vợ chồng cũng như việc xây dựng gia đình với chị H.
Từ nhận định trên thấy rằng mâu thuẫn giữa hai vợ chồng đã làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, yêu cầu khởi kiện của chị H là có căn cứ.
Chị H và anh P có 01 con chung là cháu Đỗ Vũ Thanh B, sinh ngày 25-01-2017. Nguyện vọng của chị H là muốn được nuôi con.
Xét cháu Bình còn nhỏ, hiện đang sống chung với chị H, anh P đã bỏ nhà đi không quan tâm đến việc chăm sóc nuôi dưỡng con nên tiếp tục giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục.
Xét các yêu cầu của chị H là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Chị H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không đề cập.
Chị Vũ Thị Phú H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 144, 147 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị Phú H.
1. Cho chị Vũ Thị Phú H được ly hôn anh Đỗ Thế P.
2. Giao Đỗ Vũ Thanh B, sinh ngày 25-01-2017 cho chị Vũ Thị Phú H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Chị H không có yêu cầu anh P phải cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc quyết định việc cấp dưỡng nuôi con.
3. Chị Vũ Thị Phú H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0004730 ngày 21 tháng 2 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P, tỉnh Gia Lai. Như vậy, chị H đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, chị Vũ Thị Phú H có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm. Đối với anh Đỗ Thế Pcó quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai; - VKSND thành phố P; - Chi cục THADS thành phố P; - Các đương sự; - UBND phường H, thành phố P (GCNKH số 34/2017); - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Rmah HThuyên |