- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đỗ Thị Kiều D ly hôn với Nguyễn Trí Th"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị Kiều D.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2020/HNGĐ - ST Ngày 28 tháng 5 năm 2020 V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Tiên.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Thu Yến.
2. Bà Nguyễn Thị Hơn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Phạm Vân Trang – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Cẩm Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 10/2020/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 01 năm 2020 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2020/QĐXXST-HN ngày 20 tháng 3 năm 2020 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Kiều D, sinh năm 1999 (Có mặt).
Địa chỉ: ấp T, xã TH, huyện TTh, tỉnh LA.
Bị đơn: Ông Nguyễn Trí Th, sinh năm 1991 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Số X đường TTTh, Phường H, thành phố MT, tỉnh TG.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn ly hôn, bản tự khai, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nguyên đơn chị Đỗ Thị Kiều D trình bày: Chị và anh Th cưới nhau do tự nguyện vào năm 2017, có đăng ký kết hôn vào ngày 07/8/2018 tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung bên gia đình chồng tại phường 9, thành phố Mỹ Tho. Thời gian chung sống hạnh phúc được 01 năm thì bắt đầu P sinh mâu thuẫn do chị vừa sinh con đã bắt đầu đi làm, còn anh Th chỉ ở nhà nên vợ chồng thường xuyên cự cãi. Cha mẹ hai bên đã khuyên nhủ nhưng cũng không thành. Chị đã trở về nhà cha mẹ ruột ở từ tháng 12/2018 và sống ly thân với anh Th đến nay.
Nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về hôn nhân: Chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Trí Th.
- Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Minh P, sinh 09/11/2017, hiện đang sống với mẹ tại ấp T, xã TH, huyện TTh, tỉnh LA. Khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu P, yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 2.000.000 đồng từ khi bản án có hiệu lực đến khi con đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung: Không có.
- Về nợ chung: Không có.
* Bị đơn anh Nguyễn Trí Th đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng anh vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn. Về con chung yêu cầu được nuôi con, yêu cầu chồng cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng. Về tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết, nợ chung không có.
Đại diện Viện kiểm sát P biểu tại phiên tòa: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng quy định pháp luật. Về việc giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến P biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:
.Về tố tụng:
Chị Đỗ Thị Kiều D yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Trí Th. Anh Th có nơi cư trú tại thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. Căn cứ qui định khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định tranh chấp ly hôn, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho.
Anh Nguyễn Trí Th đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo đúng qui định tại các Điều 174, Điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh vẫn vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Th.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị D và anh Th cưới nhau vào năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường 9, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang vào ngày 07/8/2018 nên là hôn nhân hợp pháp.
Theo chị D trình bày quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được 01 năm sau đó bắt đầu P sinh mâu thuẫn do chồng không có trách nhiệm chăm lo vợ con, chị vừa sinh con đã phải đi làm trong khi anh Th chỉ ở nhà, vợ chồng P sinh cãi vả không khắc phục được. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 12/2018 đến nay.
Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng sống xa cách đã lâu mà anh Th không có tha thiết gì hàn gắn, không quan tâm gì đến vợ con nên mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn.
Anh Nguyễn Trí Th vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng không có văn bản trình bày ý kiến xem như anh từ bỏ các quyền của mình theo quy định tại Điều 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét thấy, mối quan hệ hôn nhân giữa chị D và anh Th là không thể hàn gắn vì đời sống chung vợ chồng không có, mục đích hôn nhân không đạt được. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2018. Chị D đã về nhà cha mẹ ruột ở Long An, nhưng anh Th cũng không quan tâm hay hỏi han về vợ con. Còn anh Th đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng, nhưng anh vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết cũng không có văn bản trình bày ý kiến, xem như ông từ bỏ các quyền của mình và cũng thể hiện sự bỏ mặc, không tha thiết hàn gắn mối quan hệ vợ chồng với chị D.
Do đó, căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị D, cho chị được ly hôn với anh Th.
Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Minh P, sinh ngày 09/11/2017. Khi ly hôn chị D yêu cầu được tiếp tục nuôi con, yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng. Xét yêu cầu này của chị D là phù hợp vì từ khi sinh ra đến nay cháu P do mẹ chăm sóc, vì vậy để đảm bảo sự ổn định cho cháu nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình tiếp tục giao cháu P cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng. Về mức cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng là phù hợp nên chấp nhận.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung không có.
P biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chị Đỗ Thị Kiều D phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Anh Nguyễn Trí Th phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị Kiều D.
1/ Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị Kiều D được ly hôn với anh Nguyễn Trí Th.
2/ Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Minh P, sinh ngày 09/11/2017 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Th có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng. Thời gian tính từ ngày án có hiệu lực pháp luật đến khi cháu P đủ 18 tuổi.
Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung theo qui định của pháp luật.
Kể từ ngày chị D có đơn yêu cầu thi hành án nếu anh Th chậm thực hiện theo nội dung quyết định này thì phải chịu tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.
3/ Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4/ Về nợ chung: Không có.
5/ Về án phí: Chị Đỗ Thị Kiều D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000937 ngày 07 tháng 01 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho nên chị đã nộp xong.
Anh Nguyễn Trí Th phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, chị D có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử lại theo trình tự phúc thẩm. Anh Th được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: -VKSND TPMT; - UBND phường 9, TPMT - Các đương sự; - Lưu. CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ CÁC THÀNH VIÊN HĐXX | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ Tiên THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ Tiên |